Thứ Ba, 21 tháng 4, 2026

 Xu hướng mới trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
Sau khi được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm một lần nữa chọn Trung Quốc là điểm đến nước ngoài đầu tiên, thể hiện đầy đủ sự coi trọng đối với việc phát triển quan hệ Trung-Việt.



Lịch trình của chuyến thăm diễn ra dày đặc và đạt nhiều kết quả tốt đẹp. Hàng chục văn kiện hợp tác đã được ký kết, bao gồm các lĩnh vực như quan hệ kênh Đảng, công an, tư pháp, kinh tế, hợp tác chuỗi cung ứng, hợp tác hải quan, khoa học và công nghệ, đời sống nhân dân, phát triển nguồn nhân lực, truyền thông và hợp tác địa phương… Đây là nhận định của chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, Trưởng ban tiếng Việt thuộc Đài Phát thanh và Truyền hình Trung ương Trung Quốc Ngụy Vi (Wei Wei) khi trao đổi với phóng viên TTXVN tại Bắc Kinh.
Ông Ngụy Vi cho biết, trong chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, có ba hoạt động đặc biệt đáng chú ý: tham quan Khu mới Hùng An (Xiong'an); cùng Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (Xi Jinping) gặp gỡ đại diện thanh niên Trung - Việt; trải nghiệm đường sắt cao tốc.
Chuyến thăm Khu mới Hùng An thể hiện rõ sự quan tâm của Việt Nam đối với kinh nghiệm phát triển và xây dựng đô thị của Trung Quốc. Trung Quốc và Việt Nam cùng chung hệ thống chính trị và đều đang trên con đường xây dựng quốc gia xã hội chủ nghĩa của riêng mình. Có thể nói, kinh nghiệm phát triển của Trung Quốc là phù hợp với Việt Nam. Khu mới Hùng An, được xây dựng từ con số 0, đã thu hút hơn 1.000 tỷ Nhân dân tệ (khoảng 146,4 tỷ USD) vốn đầu tư và phát triển trên diện tích 215 km2 trong 9 năm. Chuyến thị sát của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Hùng An mang đến cái nhìn trực quan về cách Trung Quốc tích hợp các công nghệ “thông minh, xanh và đổi mới” vào toàn bộ quá trình quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị, cung cấp những bài học quan trọng cho sự phát triển đô thị của Việt Nam.
Cuộc gặp gỡ với đại diện thanh niên Trung - Việt phản ánh kỳ vọng cao của hai nhà lãnh đạo đối với sự phát triển trong tương lai của quan hệ song phương. Dự án “Hành trình đỏ” dành cho thanh niên Việt Nam tại Trung Quốc, do Tổng Bí thư hai Đảng cùng khởi xướng vào tháng 4/2025, chỉ trong 1 năm đã có hơn 1.000 thanh niên Việt Nam được mời sang Trung Quốc tham gia các hoạt động tham quan, học tập đỏ, trải rộng khắp hơn 10 tỉnh thành của Trung Quốc. Thanh niên là tương lai của sự phát triển và tình hữu nghị giữa hai nước. Việc Tổng Bí thư hai Đảng nhấn mạnh tình hữu nghị thanh niên nhằm mục đích biến thế hệ trẻ trở thành người kế thừa và phát huy tình hữu nghị Trung Quốc - Việt Nam. Hy vọng rằng sau chuyến thăm này, giao lưu thanh niên hai nước sẽ trở nên gắn bó hơn, đa dạng hơn và hiệu quả hơn.
Ông Ngụy Vi cho rằng trải nghiệm đường sắt cao tốc là một điểm nhấn khác trong chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Trung Quốc. Trong thời gian 4 ngày, đồng chí Tô Lâm đã đi tàu cao tốc 2 lần: một lần từ Bắc Kinh đến Hùng An, và từ Bắc Kinh đến Nam Ninh, Quảng Tây. Đặc biệt, hành trình Bắc Kinh - Nam Ninh dài hơn 2.400 km và mất khoảng 10 giờ, đi qua nhiều tỉnh thành của Trung Quốc. Theo thông tin trên các phương tiện truyền thông, Tổng Bí thư Tô Lâm không chỉ trải nghiệm đi tàu cao tốc mà còn tham quan buồng lái, thể hiện sự quan tâm mạnh mẽ hiện nay của Việt Nam đối với việc xây dựng đường sắt và đường sắt cao tốc. Đến cuối năm 2024, tổng chiều dài đường sắt đang hoạt động của Trung Quốc đạt 162.000 km, trong đó có 48.000 km đường sắt cao tốc. Kể từ khi khai trương tuyến đường sắt cao tốc đầu tiên vào năm 2008, Trung Quốc chỉ trong 18 năm đã đạt được những thành tựu mà các nước phát triển phải mất nửa thế kỷ mới có thể đạt được. Điều này mang lại những bài học quan trọng cho dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam mà Việt Nam đang ấp ủ.
Đánh giá về bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đăng trên “Nhân dân Nhật báo” của Trung Quốc, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam nhấn mạnh bài viết cung cấp cái nhìn tổng quan toàn diện về quan hệ song phương, trong đó có 3 điểm đặc biệt đáng chú ý.
Trước hết, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề cập đến vai trò cơ bản của tình hữu nghị truyền thống và tình đồng chí cách mạng giữa hai nước trong quan hệ song phương. Trong bài viết, Tổng Bí thư, Chủ tịch nướcTô Lâm đặc biệt nhấn mạnh tình hữu nghị cách mạng truyền thống sâu sắc giữa hai dân tộc, nhắc đến “Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai”, và đặc biệt lưu ý rằng “Việt Nam luôn ghi nhớ và trân trọng sự hỗ trợ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân Trung Quốc dành cho Việt Nam trong các giai đoạn khó khăn”. Đây cũng là nền tảng quan trọng để hai Đảng và hai nước cùng coi trọng và vun đắp quan hệ song phương và là di sản lịch sử quan trọng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng nhấn mạnh điểm xuất phát cho việc không ngừng cải thiện sự liên kết chiến lược giữa hai nước chính là lợi ích căn bản và lâu dài của mỗi bên. Kể từ Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVIII, dưới sự lãnh đạo của các nhà lãnh đạo hai nước, quan hệ song phương đã phát triển nhanh chóng, với việc cả hai nước đều coi sự phát triển của nhau là cơ hội cho chính mình. Một mặt, các cuộc trao đổi cấp cao diễn ra thường xuyên và hiệu quả, các cơ chế hợp tác giữa Đảng, chính phủ, cơ quan lập pháp và các bộ ngành khác nhau đang được làm sâu sắc hơn. Đặc biệt, cuộc họp cấp bộ trưởng đầu tiên của cơ chế đối thoại chiến lược “3+3” giữa hai nước về ngoại giao, quốc phòng và công an đã được tổ chức thành công vào tháng 3 vừa qua, đánh dấu một bước tiến mới trong hợp tác liên kết chiến lược. Mặt khác, hợp tác thương mại và đầu tư song phương không ngừng phát triển. Trung Quốc đã duy trì vị thế là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong hơn 20 năm liên tiếp và là nguồn đầu tư lớn thứ hai của Việt Nam. Việt Nam tiếp tục giữ vững vị thế là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong số các nước ASEAN và là đối tác thương mại lớn thứ tư của Trung Quốc trên toàn cầu. Các dự án đường sắt xuyên biên giới và xây dựng cửa khẩu thông minh giữa hai nước đang liên tục thúc đẩy kết nối. Ngoài ra, giao lưu nhân dân giữa hai nước đang ngày càng sâu sắc. Năm 2025, số lượng khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam đạt 5,28 triệu người, chiếm 25% tổng số khách du lịch quốc tế của Việt Nam. Chương trình “Hành trình đỏ” dành cho thanh niên Việt Nam tại Trung Quốc đã giúp giới trẻ hai nước hiểu biết sâu sắc hơn về nhau.
Bên cạnh đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra rằng những nỗ lực chung của Trung Quốc và Việt Nam trong việc xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai mang ý nghĩa chiến lược sẽ mở ra không gian phát triển mới trong kỷ nguyên mới. Trong những năm gần đây, lợi ích phát triển của hai nước ngày càng gắn bó chặt chẽ, con đường phát triển của hai nước có tính tương đồng cao. Năm nay đánh dấu sự khởi đầu của “Quy hoạch 5 năm lần thứ 15” của Trung Quốc, và Việt Nam cũng đã xây dựng kế hoạch phát triển 5 năm tiếp theo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vừa qua. Cả hai bên đều coi trọng phát triển chất lượng cao và cam kết thúc đẩy đổi mới công nghệ và phát triển trong các lĩnh vực mới nổi. Hơn nữa, có tiềm năng to lớn cho hợp tác thực tiễn giữa hai nước trong các lĩnh vực như hợp tác thương mại và kinh tế, hợp tác chuỗi công nghiệp và sự phù hợp trong xây dựng cơ sở hạ tầng chiến lược, có thể đạt được sự chuyển dịch lớn hơn từ “mở rộng quy mô” sang “nâng cao chất lượng”. Sự phát triển chung của Trung Quốc và Việt Nam không chỉ mang lại nhiều lợi ích thiết thực hơn cho hai Đảng, hai nước và hai dân tộc, mà còn đóng góp lớn hơn cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuyên gia Ngụy Vi cũng nhắc lại lời Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định quan hệ tốt đẹp, bền vững giữa hai nước phù hợp với lợi ích thiết thực của nhân dân Việt Nam-Trung Quốc và có lợi cho hòa bình, phát triển của khu vực.
Công Tuyên - Quang Hưng (TTXVN)
Chuyến thăm ghi dấu ấn đặc biệt, minh chứng phản bác các luận điệu sai trái
Nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc từ ngày 14-17/4/2026.


Tuy nhiên, trước, trong và sau chuyến thăm, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong, số cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã sử dụng các nền tảng mạng xã hội tung ra luận điệu sai trái, chống phá nhằm xuyên tạc mục đích, ý nghĩa chuyến thăm, bôi nhọ đường lối đối ngoại, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hạ uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Những luận điệu sai trái, xuyên tạc
Công tác đối ngoại của Việt Nam luôn nhất quán, khẳng định quan điểm hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, chúng ta mở rộng quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Trung Quốc. Trong những năm qua, đường lối đối ngoại của Việt Nam tiếp tục được đẩy mạnh, tạo ra những bước tiến quan trọng, từ tăng cường hợp tác với các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Australia, Pháp… đến việc tích cực hoạt động trong các tổ chức quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, APEC, ASEAN... Lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã có các chuyến thăm đến một số quốc gia và theo chiều ngược lại, nhiều nguyên thủ quốc gia, chính khách quốc tế có chuyến thăm chính thức Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa nước ta với nước bạn ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất. Thế nhưng, bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, phản động lại đánh tráo bản chất các chuyến thăm, hướng lái theo chiều hướng tiêu cực.
Trong bối cảnh quốc tế và khu vực xuất hiện nhiều diễn biến phức tạp khó lường như chiến tranh thương mại, xung đột vũ trang, tranh chấp tài nguyên… thì công tác đối ngoại, hợp tác giữa các nước có chung đường biên giới như Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia giữ vai trò ngày càng quan trọng. Liên quan các hoạt động ngoại giao giữa Việt Nam với Trung Quốc, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong, số cơ hội chính trị coi đây là tâm điểm để thực hiện các âm mưu chống phá. Các đối tượng lợi dụng lòng yêu nước, tinh thần dân tộc để kích động người dân tạo nên các phong trào “bài”, “thoát” hay “thân”, “đồng minh”… với các nước lớn; đưa ra các luận điệu “khuyên” Việt Nam nên ngả về nước này, chống nước kia, tạo cớ gây chia rẽ, phá hoại quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế của Việt Nam.
Trên các nền tảng mạng xã hội, các diễn đàn, blog, facebook cá nhân, thông qua cái mác là những “góc nhìn riêng”, “bình luận đa chiều”, “phản biện”, “phản biện trên tinh thần xây dựng”, “tâm thư”, “tư vấn”, các đối tượng tự xưng “nhà hoạt động”, “nhà dân chủ”, “học giả” tung ra các bài viết, video dàn dựng có nội dung sai trái, hòng tạo ra trong dư luận những “cơn sóng ngược”, gieo rắc các luồng ý kiến phản khoa học. Để thực hiện âm mưu của mình, các thế lực thù địch, các tổ chức, đối tượng phản động lưu vong đã sử dụng nhiều thủ đoạn nhằm xuyên tạc, bôi nhọ, thông tin sai lệch đối với lịch trình, nội dung chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhằm trộn lẫn thông tin thật - giả, gây hoang mang cho người đọc. Các đối tượng rêu rao rằng, đây không phải là hoạt động ngoại giao bình thường mà là một “thỏa thuận quyền lực” ở cấp cao nhất hoặc nhằm mục đích “trấn an” phía Trung Quốc.
Các đối tượng còn dựng chuyện, rêu rao rằng có sự mâu thuẫn trong quan hệ “tay ba” giữa Việt Nam – Trung Quốc và Mỹ. Họ suy diễn, việc thăm Trung Quốc trước khi đi Mỹ cũng như các nước khác là biểu hiện của sự "mất lòng" hoặc "trấn an" để gây hoài nghi về chính sách đối ngoại đa phương hóa của Việt Nam; tung ra luận điệu đả kích, xuyên tạc kiểu “đi bái kiến”! Những đối tượng cực đoan ở nước ngoài còn kêu gọi đồng bào ta ở nước ngoài tụ tập, biểu tình với các trò lố như giăng biểu ngữ, hô hoán phản đối trước trụ sở cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước sở tại để đả phá chuyến thăm; sử dụng chiêu bài vu cáo Việt Nam đàn áp dân chủ, nhân quyền; kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Không những vậy, các đối tượng thù địch, phản động cắt ghép hình ảnh, dựng video bằng công nghệ AI với các phát ngôn, đối thoại giả giọng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sau đó thêm thắt bình luận để làm méo mó, sai lệch nội dung, bản chất vấn đề. Các tổ chức trên dùng những kịch bản bịa đặt như "chuyến đi lành ít dữ nhiều" hay "âm mưu đầu độc" để gieo rắc nỗi sợ hãi, hoang mang trong dư luận. Một trong những thủ đoạn các đối tượng lợi dụng lần này là nhắc lại ký ức về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam, từ đó tung ra những luận điệu sai trái rằng cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc đã bị lãng quên. Có những kẻ lợi dụng việc này để xuyên tạc, chửi bới chính quyền, thông qua đó kích động dư luận.
Thực tiễn cho thấy, thời gian qua, thành công của những hoạt động đối ngoại, sự kiện ngoại giao lớn đã góp phần quan trọng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để củng cố, bồi đắp, gia tăng sức mạnh nội lực, tiềm lực đất nước…, đó là minh chứng sinh động, bằng chứng thuyết phục phản bác những luận điệu sai trái, thù địch về đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta.
Thành công của chuyến thăm phản bác các luận điệu sai trái
Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam, vận hội của đất nước luôn gắn liền với những biến chuyển của thời đại. Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”, khẳng định mạnh mẽ vai trò và trách nhiệm của đối ngoại đối với quốc gia, dân tộc. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế; phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước. Đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả. Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Chủ động, tích cực đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế.
Theo Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Phạm Thanh Bình, chuyến thăm lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa mang tính lịch sử, có thể nói là hoạt động đối ngoại song phương quan trọng nhất giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam và Trung Quốc trong năm 2026. Đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sau khi Việt Nam kiện toàn các chức danh lãnh đạo Nhà nước tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI; chuyến thăm đầu tiên đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước sau Đại hội Đảng XIV; cũng là hoạt động đối ngoại cấp cao quan trọng tiếp nối các chuyến thăm lịch sử của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước trong thời gian qua, diễn ra đúng một năm sau chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình.
Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong thời gian qua liên tục được củng cố trên nền tảng đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đồng thời đóng góp tích cực cho hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Việc duy trì trao đổi thường xuyên giữa lãnh đạo cấp cao không chỉ giúp tăng cường tin cậy chính trị, tạo điều kiện xử lý hiệu quả và kịp thời các vấn đề nảy sinh, mở rộng hợp tác mà còn góp phần làm rõ phương hướng hợp tác, xác định các mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm trong quan hệ song phương.
“Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là chuyến thăm lịch sử với nhiều điều đặc biệt và ghi dấu ấn về sự tăng cường kết nối chiến lược và hợp tác thực chất giữa hai nước Việt – Trung” - đây là đánh giá của Giáo sư Phan Kim Nga, chuyên gia hàng đầu về Việt Nam, nghiên cứu viên cao cấp của Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Marx thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc khi trả lời phỏng vấn báo chí. Theo Giáo sư Phan Kim Nga, ý nghĩa mang tính lịch sử trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này thể hiện trên nhiều phương diện như đoàn đại biểu quy mô lớn và cấp cao, thời điểm chuyến thăm vô cùng đặc biệt và lịch trình dày đặc hay tin cậy chính trị được nâng tầm lên kết nối chiến lược. Bà nhấn mạnh, chuyến thăm cho thấy lãnh đạo Việt Nam hết sức coi trọng quan hệ Việt – Trung, khi diễn ra chỉ vài ngày sau khi Tổng Bí thư Tô Lâm được bầu giữ chức Chủ tịch nước và Việt Nam hoàn thiện các chức danh lãnh đạo cấp cao Nhà nước. Chuyến thăm đã phản ánh đầy đủ quan điểm coi phát triển quan hệ với Trung Quốc là chủ trương nhất quán, yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược và ưu tiên hàng đầu trong tổng thể đường lối đối ngoại của Việt Nam.
Đồng thời, lãnh đạo Trung Quốc cũng dành cho lãnh đạo Việt Nam sự đón tiếp trọng thị với nghi thức cao nhất, từ 21 loạt đại bác chào mừng đến các cuộc hội đàm, hội kiến với tất cả lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc. “Về phía Trung Quốc, có thể thấy, chúng tôi rất coi trọng chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Trong cuộc hội đàm song phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã nhấn mạnh, bất kể tình hình quốc tế thay đổi ra sao, quan hệ Trung Quốc - Việt Nam sẽ luôn là phương hướng ưu tiên trong chính sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc. Điều này đã tái khẳng định tầm quan trọng của quan hệ Trung - Việt trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc” - Giáo sư Phan Kim Nga khẳng định.
Theo Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung, chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đạt kết quả đặc biệt quan trọng, rất phong phú và mang tầm chiến lược sâu sắc. Chuyến thăm vừa là sự khẳng định quan hệ truyền thống gắn bó keo sơn, mật thiết giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước trong nhiều giai đoạn cách mạng được các thế hệ lãnh đạo hai bên dày công vun đắp, vừa khẳng định quyết tâm và đề ra tầm nhìn, định hướng tổng thể của lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai nước trong việc nâng tầm kết nối chiến lược hai nước trong giai đoạn phát triển mới, củng cố cục diện đối ngoại thuận lợi, đưa mối quan hệ quan trọng này ngày càng đáp ứng thiết thực hơn nhu cầu và mong muốn của nhân dân hai nước trong kỷ nguyên mới, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Như vậy, sự phát triển sâu sắc trong mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là thực tiễn khách quan. Đồng thời, điều này chứng minh đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng ta, vì lợi ích của mỗi quốc gia - dân tộc, đóng góp vào hòa bình, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới, hoàn toàn không có chuyện “theo bên này, chống bên kia” như luận điệu những kẻ xấu, cố tình xuyên tạc, bịa đặt.
Liêm Chính - Bình Nguyên

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

 Khi nửa sự thật đôi khi còn nguy hiểm hơn cả lời nói dối!
Đọc Báo cáo Nhân quyền 2026 của Human Rights Watch (HRW), cảm giác không phải là đang đọc một tài liệu nghiên cứu, mà giống như xem một màn “biến hóa khái niệm” đầy dụng ý. Từ một biện pháp an ninh bình thường, họ có thể “phù phép” thành câu chuyện “vi phạm nhân quyền”. Nghe thì kịch tính, nhưng thực chất chỉ là chiêu cũ: cắt bối cảnh, giữ cảm xúc, rồi kết luận theo ý mình.


Câu chuyện “hạn chế tự do di chuyển” mà HRW đưa ra là Huỳnh Trọng Hiếu như ví dụ điển hình. Một trường hợp cụ thể – chưa nói rõ hành vi, chưa nhắc tới căn cứ pháp lý – lập tức được nâng cấp thành “bằng chứng đàn áp”. Nhưng HRW quên mất một điều cơ bản: quyền đi lại không phải là quyền tuyệt đối. Ngay cả trong các công ước quốc tế, quyền này vẫn có thể bị hạn chế vì an ninh quốc gia, trật tự công cộng. Nói cách khác, cái mà HRW gọi là “vi phạm” lại chính là điều… quốc tế cho phép.
Ở Việt Nam, các biện pháp hạn chế xuất cảnh hay di chuyển đều có quy định rõ ràng, có quy trình, có căn cứ pháp lý. Không có chuyện “thích là cấm”. Nhưng trong báo cáo HRW, toàn bộ phần này… biến mất. Người đọc chỉ thấy một câu chuyện một chiều: một cá nhân “bị ngăn cản”, hết. Không lý do, không bối cảnh, không pháp luật. Một nửa sự thật – và như thường lệ, nửa còn lại là phần quan trọng nhất.
Đây chính là chiêu quen thuộc: biến biện pháp an ninh thành hành vi đàn áp. Từ “quản lý theo luật” chuyển thành “hạn chế quyền”, rồi từ đó dựng lên bức tranh “đàn áp có hệ thống”. Nghe có vẻ hợp lý, nhưng thực chất là đánh tráo khái niệm rất tinh vi.
Điều buồn cười là nếu áp dụng logic của HRW, thì nhiều nước phương Tây cũng sẽ bị… “vi phạm nhân quyền”. Ở Mỹ hay châu Âu, việc hạn chế xuất cảnh với người liên quan đến an ninh quốc gia là chuyện bình thường. Nhưng HRW lại không “soi” theo cùng một cách. Đó chính là tiêu chuẩn kép: cùng một hành vi, nhưng đánh giá khác nhau tùy… đối tượng.
Không dừng lại ở đó, HRW còn có thói quen “lấy một suy ra tất cả”. Một trường hợp riêng lẻ được phóng đại thành chính sách quốc gia. Một câu chuyện chưa đầy đủ được biến thành “bằng chứng hệ thống”. Đây không phải là nghiên cứu – mà là cách kể chuyện có chủ đích.
Càng nhìn kỹ càng thấy rõ: HRW không thiếu thông tin, họ chỉ thiếu cân bằng. Không thiếu dữ liệu, họ chỉ thiếu bối cảnh. Và không thiếu “nhân quyền”, họ chỉ thiếu sự tôn trọng sự thật.
Trong khi đó, thực tế lại rất đơn giản: hàng triệu người Việt Nam mỗi năm đi học, làm việc, du lịch nước ngoài bình thường. Chính sách xuất nhập cảnh ngày càng thông thoáng, minh bạch. Những trường hợp bị hạn chế chỉ là số rất nhỏ và đều có lý do pháp lý cụ thể. Nhưng những điều đó không xuất hiện trong báo cáo – vì nó không phù hợp với câu chuyện đã được viết sẵn.
Nói thẳng ra, HRW 2026 không phải là một bản báo cáo khách quan, mà là một sản phẩm truyền thông được “định hướng nội dung”. Khi nhân quyền bị dùng như công cụ gây sức ép, thì nó không còn là giá trị phổ quát nữa.
Và điều đáng nói nhất: vấn đề không phải HRW nói sai hoàn toàn, mà là họ chỉ nói một phần – phần có lợi cho họ.
Mà như ai cũng biết, nửa sự thật đôi khi còn nguy hiểm hơn cả lời nói dối.

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

 10 giờ trên đường ray và một “bài học không giáo trình”: Khi Tô Lâm chọn cách nhìn tận mắt thay vì nghe báo cáo
Nếu chỉ nhìn bề ngoài, việc Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn cấp cao đi tàu hỏa từ Trung Quốc về Việt Nam có thể bị xem là một chi tiết “lạ lạ” trong ngoại giao. Nhưng trên mạng xã hội những ngày qua, chính chi tiết đó lại trở thành tâm điểm bàn luận – và thú vị hơn, nó được nhìn như một “nước đi chiến lược” mang màu sắc rất khác so với các chuyến công du thông thường.


Nhiều bình luận viral đã nói vui: “Người ta bay để tiết kiệm thời gian, còn ông Tô Lâm chọn đi tàu để ‘mua thêm tầm nhìn’.” Câu nói tưởng đùa nhưng lại chạm đúng bản chất. 10 giờ trên tuyến đường sắt cao tốc không phải là thời gian bị kéo dài, mà là 10 giờ quan sát, 10 giờ đối chiếu, 10 giờ để lãnh đạo cấp cao “nhìn tận mắt” một mô hình phát triển đã vận hành ngoài đời thực.
Thay vì nghe báo cáo powerpoint hay những con số đã được chọn lọc, việc trực tiếp đi xuyên qua hàng nghìn km hạ tầng hiện đại chính là cách tiếp cận thực tế nhất. Một số ý kiến trên mạng còn gọi đây là “chuyến study tour cấp nguyên thủ” – nơi mọi thứ không còn là lý thuyết, mà là trải nghiệm trực diện.
Nhưng điều khiến câu chuyện này lan mạnh không chỉ nằm ở yếu tố “trải nghiệm”. Dư luận đặc biệt chú ý đến thông điệp phía sau: một phong cách lãnh đạo quyết đoán, sẵn sàng chọn cách làm khác nếu nó mang lại giá trị lớn hơn. Trong bối cảnh nhiều chuyến công du thường bị “đóng khung” trong nghi thức, lựa chọn tàu hỏa cho thấy sự chủ động phá vỡ lối mòn, ưu tiên hiệu quả thực chất.
Có bình luận rất đáng chú ý: “Đi tàu là cách nhanh nhất để hiểu vì sao người ta phát triển nhanh.” Nhận định này phản ánh một góc nhìn khá phổ biến – rằng chuyến đi không chỉ là di chuyển, mà là một cách “giải mã” mô hình tăng trưởng thông qua hạ tầng. Và khi câu chuyện được đặt trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy các dự án đường sắt tốc độ cao, ý nghĩa của hành trình càng trở nên rõ nét.
Tất nhiên, trên mạng xã hội cũng xuất hiện không ít suy diễn theo hướng cực đoan, cho rằng đây là biểu hiện của sự “nghiêng về một phía”. Nhưng phần lớn ý kiến có hiểu biết đều bác bỏ cách nhìn này. Họ nhấn mạnh rằng, quan sát để học hỏi không đồng nghĩa với lựa chọn ràng buộc, và hợp tác không có nghĩa là phụ thuộc. Thực tế, cách tiếp cận “đi để thấy, thấy để chọn” lại càng cho thấy sự tỉnh táo trong hoạch định chính sách.
Điểm đáng nói là chính sự giản dị của phương tiện – một chuyến tàu – lại làm nổi bật tư duy lớn phía sau. Không ồn ào, không phô trương, nhưng đủ để tạo ra một câu chuyện lan truyền mạnh: lãnh đạo không chỉ ngồi bàn giấy, mà trực tiếp “đi qua thực tế” trước khi đưa ra quyết định.
Trong thời đại mà mọi hành động của lãnh đạo đều bị soi xét dưới lăng kính mạng xã hội, việc một chi tiết nhỏ như lựa chọn phương tiện di chuyển lại có thể tạo hiệu ứng lớn cho thấy một điều: người dân ngày càng quan tâm đến cách lãnh đạo tư duy, không chỉ là họ nói gì.
Và có lẽ, chính ở điểm này, chuyến tàu 10 giờ ấy đã đạt được giá trị vượt ra ngoài một hành trình ngoại giao thông thường. Nó trở thành một biểu tượng mềm cho phong cách điều hành: thực tế hơn, trực diện hơn, và sẵn sàng hành động khác biệt để phục vụ lợi ích dài hạn của quốc gia.

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

 Mở rộng hợp tác thực chất, đẩy mạnh kết nối phát triển giữa Việt Nam-Trung Quốc
Chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam ghi dấu ấn quan trọng trong lịch sử quan hệ Việt Nam-Trung Quốc.



Với những định hướng mới, đột phá mới trong hợp tác kinh tế, đầu tư và nhiều lĩnh vực khác, hai bên đã nâng tầm kết nối chiến lược và xác lập tầm cao mới cho quan hệ giữa hai Đảng, hai nước.
Là hai nước láng giềng “núi liền núi, sông liền sông”, mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc luôn được các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai nước quan tâm vun đắp. Đến nay, sau 76 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, vượt qua thử thách thăng trầm, tình hữu nghị và hợp tác vẫn là dòng chảy chính trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc.
Chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ngay sau khi Quốc hội khóa XVI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiện toàn các chức danh Nhà nước, thể hiện tình cảm chân thành, sự trân trọng của Đảng, Nhà nước Việt Nam, đồng thời khẳng định phát triển quan hệ với láng giềng Trung Quốc là chủ trương nhất quán, yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược và ưu tiên hàng đầu trong tổng thể đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam.
Trân trọng tình cảm đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình và Phu nhân đã đón Đoàn đại biểu cấp cao Đảng, Nhà nước Việt Nam với nghi thức ở mức cao nhất, trọng thị và hết sức nồng hậu với nhiều biệt lệ.
Là hai nước láng giềng “núi liền núi, sông liền sông”, mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc luôn được các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai nước quan tâm vun đắp. Đến nay, sau 76 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, vượt qua thử thách thăng trầm, tình hữu nghị và hợp tác vẫn là dòng chảy chính trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc.
Hai nhà lãnh đạo cao nhất của hai Đảng, hai nước đã trao đổi nhiều nội dung quan trọng, đề ra những phương hướng lớn để thúc đẩy hợp tác thực chất trên các lĩnh vực, tranh thủ thế mạnh của mỗi bên. Trong những ngày ở thăm nước bạn, Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam có rất nhiều hoạt động phong phú, gây ấn tượng tốt đẹp, thu hút sự quan tâm của các ngành, địa phương và nhân dân hai nước.
Ngay trong chuyến thăm, các bộ, ngành địa phương hai bên đã ký nhiều văn kiện hợp tác tiêu biểu trên các lĩnh vực. Đó chính là minh chứng sống động của việc các nhận thức chung cấp cao đang ngày càng được cụ thể hóa bằng sự kết nối về thể chế, bằng các dự án hợp tác thực chất, mở ra những dư địa mới rất lớn cho quan hệ song phương và giúp cho quan hệ hai nước ngày càng bền vững.
Ngay khi vừa đến Bắc Kinh, sau lễ đón thân tình, ấm áp tại sân bay, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao đã đến Khu mới Hùng An, tỉnh Hà Bắc, cách Thủ đô Bắc Kinh gần 110km để khảo sát, tìm hiểu thực tế quy hoạch tại đây. Hùng An là một điển hình đô thị hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa của bạn, có vai trò tiếp nhận các chức năng phi thủ đô của Bắc Kinh, nhằm xử lý “căn bệnh thành phố lớn” của Trung Quốc. Đoàn cũng đã trải nghiệm những hành trình đường sắt cao tốc hiện đại bậc nhất thế giới. Với tốc độ 350 km/giờ, quãng đường khoảng 2.400km từ thủ đô Bắc Kinh đi thành phố Nam Ninh, thủ phủ Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây trong chỉ 10 giờ đồng hồ.
Tại thành phố Nam Ninh, Đoàn đã đến thăm Trung tâm Hợp tác đổi mới trí tuệ nhân tạo Trung Quốc-ASEAN, tham quan triển lãm về hợp tác ứng dụng trí tuệ nhân tạo Trung Quốc và Việt Nam và khu trưng bày các sản phẩm ứng dụng trí tuệ nhân tạo tiêu biểu của doanh nghiệp Trung Quốc. Trung tâm này thúc đẩy các doanh nghiệp có năng lực của Trung Quốc đi sâu khai thác tiềm năng, nhu cầu của các nước ASEAN và các nước liên quan thúc đẩy hợp tác ứng dụng AI trong các lĩnh vực trên cơ sở phù hợp với nhu cầu của từng nước.
Các lĩnh vực nêu trên đều được xác định ưu tiên đẩy mạnh trong quan hệ hợp tác giữa hai nước bởi Trung Quốc đã đạt được thành tựu và đang tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ phát triển chất lượng cao, tự cường khoa học-công nghệ và các lực lượng sản xuất mới. Việt Nam thì đang đặt các lĩnh vực này vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước.
Qua đánh giá thực tiễn tiềm năng, thế mạnh mỗi nước, các nhà lãnh đạo hai bên thống nhất thúc đẩy hợp tác kinh tế, đầu tư và kết nối hạ tầng chiến lược, đưa hợp tác về đường sắt trở thành điểm sáng mới trong hợp tác chiến lược giữa hai nước. Trung Quốc sẵn sàng triển khai hợp tác với Việt Nam về vốn vay, công nghệ, đào tạo nhân lực, năng lực công nghiệp trong lĩnh vực đường sắt; chỉ đạo doanh nghiệp có thực lực tham gia xây dựng đường sắt.
Ba dự án đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng, Đồng Đăng-Hà Nội và Móng Cái-Hạ Long-Hải Phòng đang được cả hai bên chủ động thúc đẩy. Hai bên cũng phối hợp chặt chẽ trong phát triển hạ tầng thương mại biên giới với việc lần lượt xây dựng Khu hợp tác kinh tế qua biên giới tại Quảng Tây, Vân Nam của Trung Quốc và Quảng Ninh, Lào Cai của Việt Nam. Việc triển khai đồng bộ, hiệu quả các dự án sẽ mở ra những hành lang phát triển mới, không chỉ kết nối Việt Nam với Trung Quốc mà còn kết nối sâu hơn với Đông Nam Á, Trung Á và châu Âu.
Chia sẻ với bạn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong trong tương lai không xa, những chuyến tàu thực sự trở thành những chuyến tàu của hợp tác, của phát triển và của tình hữu nghị giữa hai nước. Điều quan trọng là việc hợp tác triển khai thực hiện các dự án là cơ hội để Việt Nam làm chủ công nghệ, phát triển sản xuất công nghiệp đường sắt.
Một ấn tượng nữa trong chuyến thăm Trung Quốc lần này là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tới dự Lễ khởi động Liên hoan nhân dân biên giới Việt NamTrung Quốc năm 2026 tại thành phố Nam Ninh (Quảng Tây), thể hiện sự quan tâm cao độ đối với việc tiếp nối, vun đắp tình hữu nghị truyền thống Việt-Trung.
Trong không khí vui tươi tràn đầy cảm xúc của những bài ca, điệu múa truyền thống hai nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh ý nghĩa của việc tổ chức liên hoan tại vùng đất lưu giữ nhiều ký ức lịch sử chung của hai dân tộc, đồng thời khẳng định trong suốt chiều dài lịch sử, nhân dân chính là cầu nối bền bỉ, là “mạch nguồn” nuôi dưỡng và điều hòa, giúp quan hệ Việt Nam-Trung Quốc không ngừng vượt sóng vươn xa.
Đặc biệt gửi gắm niềm tin vào thế hệ trẻ, trong buổi đến thăm Đại học Thanh Hoa hay buổi gặp gỡ thanh niên hai nước tham gia Chương trình “Hành trình đỏ nghiên cứu, học tập”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đều chia sẻ rằng, tạo hóa đã đặt hai đất nước, hai dân tộc mãi mãi ở cạnh nhau, núi liền núi, sông liền sông và lịch sử đã gắn bó qua mấy nghìn năm bang giao. Nhân dân hai nước đã bền bỉ nuôi dưỡng mối quan hệ ấy bằng tình cảm chân thành và khát vọng chung về hòa bình, ổn định và phát triển. Tuổi trẻ hai nước bằng trí tuệ, trách nhiệm, tinh thần tiên phong sáng tạo, khát vọng cống hiến, tiếp bước cha anh, mang đến sức sống và tương lai tươi sáng cho quan hệ Việt-Trung.
Kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam chia tay những người đồng chí, người anh em trở về Việt Nam với hành trình đường sắt từ Quảng Tây về Hà Nội, ngắm nhìn vẻ đẹp bình yên của phong cảnh “núi liền núi, sông liền sông” cảm nhận rõ giai đoạn phát triển mới rất tốt đẹp của mối quan hệ giữa hai nước với không gian hợp tác rộng mở, thúc đẩy kết nối phát triển hiệu quả, bền vững.
HẠNH NGUYÊN
 “Đảo chính y tế”? Nghe kịch bản còn kịch hơn phim!
Nếu mạng xã hội là một cái chợ, thì mấy ngày trước kỳ họp Quốc hội vừa rồi đúng kiểu “chợ tin đồn” mở hội. Tự nhiên xuất hiện hàng loạt “nhà báo ẩn danh”, “nguồn tin nội bộ cấp cao”, đồng loạt tung tin kiểu: “có biến!”, “đang có chuyện lớn!”, “đảo chính y tế!” liên quan đến "sinh mệnh' của ông Tổng Bí thư. Nghe xong cứ tưởng Netflix vừa ra series chính trị mới. Nhưng tiếc là… không có tập nào là thật.



Cái hay (mà cũng cái dở) của mấy bài này là không bao giờ nói thẳng. Không ai dám khẳng định điều gì, chỉ toàn kiểu “nghe nói”, “có khả năng”, “liệu rằng…”. Đọc xong, người ta không biết chuyện gì xảy ra, nhưng lại thấy… có vẻ sắp xảy ra cái gì đó. Đó chính là chiêu: gieo nghi ngờ. Không cần bằng chứng, chỉ cần khiến bạn thấy “có mùi” là đủ.
Rồi đến những cụm từ nghe rất “kịch”: “đảo chính y tế”, “chiến trường quyền lực trong bệnh viện”. Nghe hoành tráng vậy thôi chứ hỏi lại: có cái khái niệm nào như vậy trong chính trị hay pháp luật không? Không. Nhưng cứ lặp đi lặp lại, nói nhiều thành quen, quen thành… tưởng thật. Đúng kiểu lấy tưởng tượng làm dữ liệu.
Thực chất, mục tiêu là biến chuyện cá nhân thành chuyện hệ thống. Một tin đồn nhỏ được thổi lên thành “khủng hoảng lớn”. Vì sao? Vì nếu người ta bắt đầu nghi ngờ một cá nhân, họ sẽ dễ nghi ngờ cả bộ máy. Đó mới là “đích đến” của những người tung tin.
Nhưng đời không phải phim. Thực tế là các hoạt động của Đảng, Nhà nước vẫn diễn ra bình thường, Quốc hội họp đúng kế hoạch, bộ máy vận hành trơn tru. Không có “biến”, cũng chẳng có “đảo chính” nào cả. Hệ thống chính trị vận hành theo nguyên tắc tập thể, không có chuyện một người “ngã cái là cả hệ thống tê liệt” như mấy bài viết cố tình vẽ ra.
Vậy tại sao tin giả vẫn lan nhanh? Đơn giản thôi: đánh vào cảm xúc. Những câu như “có biến rồi!”, “tin nóng!”, “ai đứng sau?” không cung cấp thông tin, nhưng kích thích tò mò. Mà khi tò mò lên ngôi, lý trí thường… nghỉ phép. Thế là người ta share trước, kiểm chứng sau (nếu có).
Nguy hiểm hơn, càng nhiều người bàn tán, tin đồn càng giống thật. Đám đông vô tình trở thành “nhà biên kịch tập thể”, mỗi người thêm một chi tiết, cuối cùng thành một câu chuyện hoàn chỉnh – dù chẳng có nền tảng nào ban đầu.
Nói cho gọn: đây không phải tin tức, mà là một “kịch bản tâm lý”. Và mỗi lượt chia sẻ thiếu kiểm chứng chính là một lần… góp vốn sản xuất.
Trong thời đại này, ai cũng là “đài phát sóng”. Nhưng cũng có thể là “bộ lọc”. Tin đồn có thể chạy nhanh, nhưng sự thật thì chạy bền. Muốn không bị dắt mũi, cách đơn giản nhất là: thấy cái gì càng giật gân, càng nên chậm lại một nhịp.
Vì đôi khi, thứ đáng sợ không phải là “có biến”, mà là… tin vào thứ chưa từng tồn tại.

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2026

 Thủ tướng Lê Minh Hưng đề xuất 3 định hướng hợp tác chính tại Hội nghị AZEC mở rộng
Ngày 15-4, nhận lời mời của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã tham dự Hội nghị Thượng đỉnh trực tuyến Cộng đồng phát thải ròng bằng 0 châu Á (AZEC) mở rộng về tự chủ năng lượng, do Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae chủ trì.



Hội nghị có sự tham dự của các nhà lãnh đạo từ 15 nước, trong đó có 10 nước thành viên AZEC, gồm: Nhật Bản, Australia, Brunei, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam; 5 nước khách mời là Hàn Quốc, Bangladesh, Ấn Độ, Sri Lanka, Đông Timor và lãnh đạo Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Tổ chức Năng lượng quốc tế (IEA).
Phát biểu khai mạc hội nghị, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae nhấn mạnh, Hội nghị được tổ chức nhằm ứng phó với sự đứt gãy chuỗi cung ứng năng lượng và bảo đảm an ninh năng lượng của các nước châu Á do ảnh hưởng từ sự gián đoạn nguồn cung năng lượng.
Thủ tướng Takaichi Sanae công bố Nhật Bản quyết định dành gói tài chính 10 tỷ USD để hỗ trợ đa dạng hóa nguồn cung năng lượng cho các nước châu Á, tập trung vào các biện pháp ứng phó khẩn cấp như mua sắm vật tư và duy trì chuỗi cung ứng, tăng cường khả năng phục hồi kinh tế, năng lượng trong dài hạn.
Thủ tướng Takaichi Sanae cũng đề xuất nâng cấp sáng kiến AZEC lên AZEC 2.0, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và gia tăng tính tự cường của các nền kinh tế châu Á.
Tại hội nghị, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhận định, cuộc khủng hoảng năng lượng hiện nay không chỉ xuất phát từ những biến động ngắn hạn, mà còn phản ánh những mất cân đối mang tính cấu trúc, cùng sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia, nhất là trong việc tiếp cận các nguồn tài nguyên năng lượng.
Thủ tướng Lê Minh Hưng cho rằng, giải pháp căn cơ không chỉ là đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, mà cần tăng cường tin cậy chiến lược, thúc đẩy hợp tác, đối thoại, giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Thủ tướng khẳng định, Việt Nam đang nỗ lực hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, xác định phát triển năng lượng tái tạo và chuyển đổi xanh là một ưu tiên chiến lược.
Thủ tướng đề xuất 3 định hướng hợp tác quan trọng để giải quyết các vấn đề năng lượng và duy trì chuỗi cung ứng. Thứ nhất, trong ngắn hạn, các nước cần tăng cường hợp tác và phối hợp chính sách nhằm đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, thuận lợi hóa thương mại và duy trì ổn định, thông suốt các chuỗi cung ứng nhất về năng lượng và lương thực. Thứ hai, trong trung và dài hạn, cần nâng cao tự chủ chiến lược và năng lực chống chịu của các nền kinh tế thông qua phát triển hạ tầng năng lượng đồng bộ, tăng cường dự trữ chiến lược và đẩy mạnh chuyển giao công nghệ. Thứ ba, cần đẩy nhanh triển khai hiệu quả, thực chất các dự án hợp tác trong khuôn khổ AZEC, phù hợp với năng lực và điều kiện thực tiễn của từng quốc gia.
Thủ tướng Lê Minh Hưng bày tỏ ủng hộ sáng kiến nâng cấp AZEC lên AZEC 2.0 và khẳng định Việt Nam cam kết sẽ tiếp tục chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ cùng Nhật Bản và các đối tác trong triển khai hiệu quả sáng kiến của AZEC, để cùng nhau kiến tạo một tương lai xanh hơn, bền vững hơn, thịnh vượng hơn cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Lãnh đạo các nước và tổ chức quốc tế hoan nghênh sáng kiến của Nhật Bản chủ trì tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh trực tuyến về tự chủ năng lượng trong bối cảnh hiện nay; bày tỏ lo ngại sự đứt gãy chuỗi cung ứng và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo các tuyến lưu thông hàng hóa trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế.
Các nhà lãnh đạo đánh giá cao sự hỗ trợ của Nhật Bản đối với các nước châu Á, ủng hộ sáng kiến AZEC 2.0 và khẳng định mong muốn hợp tác chặt chẽ với Nhật Bản để thúc đẩy tăng cường chuỗi cung ứng, đảm bảo an ninh năng lượng.
Thủ tướng Nhật Bản cảm ơn bài phát biểu sâu sắc, phù hợp với tình hình hiện nay và các đề xuất của lãnh đạo Việt Nam và các nước, đồng thời cho biết, sẽ giao cơ quan liên quan của Nhật Bản khẩn trương trao đổi với các nước, để sớm cụ thể hóa những sáng kiến trên.

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2026

Đừng để “hào quang giả” che mắt sự thật!
Những năm gần đây, một hiện tượng đáng lo ngại trên không gian mạng là việc một số đối tượng vi phạm pháp luật lại được các hội nhóm chống đối tung hô như “người hùng”, “biểu tượng đấu tranh”. Thủ đoạn “tung hô ngược” này không mới, nhưng ngày càng tinh vi, đánh vào tâm lý hiếu kỳ và sự thiếu kiểm chứng thông tin của một bộ phận người dùng mạng xã hội.



Trường hợp Lê Chí Thành là một ví dụ điển hình. Từng là cán bộ trong lực lượng Công an nhân dân, nhưng do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, Thành liên tục vi phạm kỷ luật, từ bỏ vị trí công tác, có hành vi sai trái, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín đơn vị. Hệ quả tất yếu là bị tước danh hiệu và xử lý theo quy định pháp luật. Không dừng lại ở đó, các hành vi vi phạm tiếp diễn đã khiến Thành bị tòa án tuyên tổng cộng 5 năm tù giam với các tội danh liên quan đến chống người thi hành công vụ và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân.
Thế nhưng, thay vì nhìn nhận sai phạm, cải tạo để làm lại cuộc đời, Lê Chí Thành lại tiếp tục con đường cũ sau khi mãn hạn tù. Lợi dụng mạng xã hội, đối tượng này đăng tải nhiều nội dung xuyên tạc, bóp méo sự thật, công kích các chủ trương, chính sách, thậm chí bôi nhọ lực lượng Công an – nơi mình từng công tác. Đáng chú ý, việc sử dụng lại trang phục ngành để livestream, quay video đã tạo ra sự ngộ nhận nguy hiểm trong dư luận, khiến một số người lầm tưởng về tư cách và động cơ của đối tượng.
Chính trong bối cảnh đó, các hội nhóm phản động, lưu vong nhanh chóng “chớp thời cơ”, dựng lên hình ảnh một “cựu đại úy dũng cảm”, “người chống tham nhũng”, “nạn nhân của bất công”. Những mỹ từ hoa mỹ, câu chữ sướt mướt được lặp lại theo một kịch bản quen thuộc, từng áp dụng với nhiều đối tượng vi phạm pháp luật trước đây. Mục đích không gì khác là đánh tráo khái niệm, biến sai phạm thành “hy sinh”, biến đối tượng vi phạm thành “biểu tượng”.
Nếu không tỉnh táo, người đọc rất dễ bị cuốn theo những câu chuyện được tô vẽ đầy cảm xúc ấy, từ đó nảy sinh tâm lý thương cảm sai lệch. Nhưng thực tế cho thấy, bản chất của vấn đề không nằm ở những lời tung hô, mà ở hành vi cụ thể đã bị pháp luật xử lý. Một cá nhân từng vi phạm, không sửa sai mà tiếp tục tái phạm, thậm chí có hành vi chống phá, thì không thể được xem là hình mẫu hay biểu tượng cho bất kỳ giá trị tích cực nào.
Câu chuyện Lê Chí Thành một lần nữa cho thấy, chiêu trò “dựng tượng đài giả” trên không gian mạng vẫn đang được các thế lực xấu khai thác triệt để. Bằng cách lợi dụng danh nghĩa “dân chủ”, “nhân quyền”, họ cố tình dẫn dắt dư luận theo hướng sai lệch, tạo hiệu ứng đám đông và từng bước hình thành nhận thức méo mó.
Trong bối cảnh đó, điều cần thiết hơn bao giờ hết là sự tỉnh táo và khả năng sàng lọc thông tin của mỗi người. Không thể để những “hào quang giả” che lấp sự thật, càng không thể để cảm xúc nhất thời thay thế cho nhận thức đúng đắn. Bởi lẽ, sự thật luôn có giá trị của nó – và không một lớp sơn hào nhoáng nào có thể che đậy mãi bản chất của những hành vi sai trái.
 Tự động hóa quân dịch: Mỹ siết quản lý hay phát tín hiệu chiến lược mới?
Việc chính phủ Mỹ thông qua cơ chế tự động ghi danh nam công dân 18–25 tuổi vào Hệ thống Tuyển chọn Quân dịch theo NDAA 2026 không đơn thuần là một điều chỉnh kỹ thuật hành chính, mà phản ánh sự dịch chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị an ninh quốc gia. Lần đầu tiên kể từ khi cơ chế “tự đăng ký” được áp dụng từ năm 1980, trách nhiệm này được chuyển hoàn toàn sang nhà nước thông qua việc khai thác dữ liệu liên bang, nhằm đảm bảo độ bao phủ và tính sẵn sàng của nguồn nhân lực quân sự trong tình huống khẩn cấp.



Về bản chất, động thái này không đồng nghĩa với việc Mỹ tái lập nghĩa vụ quân sự bắt buộc, bởi từ sau năm 1973, quân đội Mỹ vẫn duy trì mô hình tình nguyện và mọi quyết định “tổng động viên” đều phải có phê chuẩn riêng của Quốc hội . Tuy nhiên, việc tự động hóa đăng ký cho thấy Washington đang tìm cách giảm thiểu “độ trễ thể chế” – tức thời gian cần thiết để chuyển từ trạng thái hòa bình sang huy động quân lực quy mô lớn nếu xảy ra khủng hoảng. Nói cách khác, đây là bước chuẩn bị mang tính phòng ngừa chiến lược hơn là phản ứng tức thời trước một cuộc chiến cụ thể.
Dư luận Mỹ trước động thái này bộc lộ sự phân hóa rõ rệt. Một bộ phận truyền thông và giới hoạch định chính sách nhìn nhận đây là cải cách hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ tự đăng ký trước đây có xu hướng suy giảm. Tuy nhiên, làn sóng phản đối cũng nổi lên đáng kể từ các tổ chức phản chiến, dân quyền và tôn giáo. Theo phản ánh báo chí, hơn 40 tổ chức đã lên tiếng chỉ trích chính sách này là “một cuộc thu thập dữ liệu nguy hiểm”, lo ngại việc mở rộng quyền truy cập dữ liệu liên bang có thể xâm phạm quyền riêng tư và tạo tiền đề cho việc triển khai quân dịch trong tương lai .
Không chỉ dừng ở các tổ chức xã hội, phản ứng hoài nghi còn lan rộng trên không gian mạng, nơi nhiều ý kiến cho rằng chính sách này là dấu hiệu Mỹ đang chuẩn bị cho xung đột lớn, đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị gia tăng. Tuy vậy, các cơ quan chức năng Mỹ nhiều lần khẳng định việc tự động đăng ký chỉ mang tính thủ tục, không đồng nghĩa với việc kích hoạt quân dịch . Sự chênh lệch giữa thông điệp chính thức và cách diễn giải trong dư luận cho thấy khoảng trống niềm tin và nỗi lo thường trực của xã hội Mỹ trước các quyết sách liên quan đến chiến tranh.
Từ góc độ chiến lược, có thể dự báo bước đi tiếp theo của Mỹ sẽ tập trung vào ba hướng chính. Thứ nhất là hoàn thiện hạ tầng dữ liệu và hệ thống quản lý SSS theo hướng số hóa toàn diện, bảo đảm khả năng vận hành nhanh trong tình huống khẩn cấp. Thứ hai là tiếp tục tranh luận về mở rộng đối tượng đăng ký, đặc biệt liên quan đến vấn đề bình đẳng giới trong nghĩa vụ quân sự – một chủ đề đã được đặt ra nhiều năm nhưng chưa có đồng thuận chính trị. Thứ ba, và quan trọng hơn, là việc duy trì “trạng thái sẵn sàng thấp nhưng linh hoạt cao”, tức không kích hoạt quân dịch nhưng luôn giữ đầy đủ công cụ pháp lý và kỹ thuật để làm điều đó khi cần thiết.
Nhìn tổng thể, chính sách tự động hóa đăng ký quân dịch của Mỹ phản ánh một thực tế: dù vẫn duy trì mô hình quân đội tình nguyện, Washington không từ bỏ logic chuẩn bị cho chiến tranh tổng lực. Trong bối cảnh thế giới biến động, đây là bước đi mang tính phòng xa, nhưng đồng thời cũng phơi bày những mâu thuẫn nội tại trong xã hội Mỹ giữa nhu cầu an ninh và nỗi lo về quyền tự do cá nhân.

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

 Tự tôn đến cực đoan: Khi chính trị gia “đóng vai Chúa” và cái giá của sự ngạo mạn truyền thông

Những ngày qua, dư luận cả ở Việt Nam lẫn Mỹ xôn xao trước việc Donald Trump đăng tải hình ảnh bản thân được khắc họa như một hình tượng mang màu sắc Chúa Giê-su, rồi nhanh chóng xóa bỏ sau làn sóng phản ứng dữ dội. Sự việc không chỉ dừng lại ở một bức ảnh gây tranh cãi, mà còn phơi bày một vấn đề sâu xa hơn: ranh giới giữa tự tin chính trị và tự tôn cá nhân đã bị xóa nhòa đến mức nguy hiểm.



Tại Mỹ, phản ứng từ công chúng và giới quan sát khá rõ ràng. Nhiều ý kiến cho rằng việc một chính trị gia tự đặt mình vào biểu tượng tôn giáo thiêng liêng là hành động thiếu tôn trọng đức tin, đặc biệt trong bối cảnh xã hội Mỹ vốn rất nhạy cảm với các giá trị tín ngưỡng. Ngay cả một số đồng minh và cử tri bảo thủ cũng tỏ ra dè dặt, coi đây là bước đi truyền thông “quá tay”, làm suy giảm hình ảnh lãnh đạo nghiêm túc. Việc xóa bài sau đó cho thấy chính Trump cũng nhận ra áp lực dư luận, nhưng cách xử lý “im lặng rút lui” lại càng khiến người ta đặt câu hỏi về tính nhất quán và trách nhiệm.
Ở Việt Nam, phản ứng của cộng đồng mạng mang màu sắc khác nhưng không kém phần gay gắt. Nhiều bình luận mang tính châm biếm, mỉa mai, thậm chí cực đoan, phản ánh tâm lý phản cảm trước hành vi bị cho là “tự phong thần thánh”. Từ những lời chế giễu cho đến các so sánh mang tính phóng đại, có thể thấy hình ảnh này đã chạm vào một “lằn ranh văn hóa” mà người Á Đông vốn coi trọng: sự khiêm nhường và tôn kính các giá trị thiêng liêng. Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng một bộ phận cư dân mạng đã đi quá xa, sử dụng ngôn từ thiếu chuẩn mực, làm lệch hướng tranh luận từ phê bình sang công kích cảm tính.
Điểm đáng chú ý là sự kiện này không thể tách rời khỏi những tranh cãi trước đó giữa Trump và Giáo hoàng Francis. Việc ông không đưa ra lời xin lỗi hay động thái hòa giải càng củng cố hình ảnh một chính trị gia theo đuổi phong cách đối đầu, sẵn sàng đẩy căng thẳng lên cao thay vì hạ nhiệt. Trong bối cảnh đó, bức ảnh “hóa thân” thành biểu tượng tôn giáo không còn là sự cố truyền thông đơn lẻ, mà trở thành mắt xích trong chuỗi hành vi thể hiện cái tôi chính trị rất lớn.
Suy cho cùng, chính trị hiện đại không chỉ là câu chuyện quyền lực mà còn là nghệ thuật kiểm soát hình ảnh và cảm xúc công chúng. Khi một lãnh đạo vượt qua ranh giới của sự tự tin để bước sang vùng của sự tự tôn cực đoan, mọi hành động—even mang tính biểu tượng—đều có thể trở thành con dao hai lưỡi. Trường hợp của Trump là minh chứng rõ ràng: một khoảnh khắc gây chú ý có thể nhanh chóng biến thành khủng hoảng niềm tin nếu thiếu sự tỉnh táo và tôn trọng những giá trị căn bản của xã hội.