Thứ Tư, 14 tháng 1, 2026

 Việt Nam từ khủng hoảng lạm phát đến nền kinh tế 510 tỷ USD

Từ nền kinh tế khan hiếm hàng hóa, lạm phát 774% cuối năm 1986, Việt Nam sau 40 năm đổi mới đã trở thành nước đang phát triển thu nhập trung bình cao, quy mô GDP trên 510 tỷ USD.


Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới 40 năm qua ở Việt Nam của Ban Chấp hành Trung ương khóa 13 nhìn lại bối cảnh trước năm 1986, khi đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề và rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài. Cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980, nền kinh tế thiếu hụt hàng hóa nghiêm trọng, đời sống người dân khó khăn. 10 năm đầu sau thống nhất đất nước, thu nhập bình quân đầu người Việt Nam chỉ 125-200 USD/năm, nằm trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới. Lạm phát cuối năm 1986 lên đến 774%.
Đại hội Đảng 6 xác định một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện. Do đó từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới. Trong 10 năm đầu, dù chịu tác động từ bao vây, cấm vận, nền kinh tế dần thoát khỏi khủng hoảng, vượt qua khó khăn. Kinh tế từng bước khắc phục tình trạng trì trệ, suy thoái và duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao liên tục.
Giai đoạn 1996-2005, đất nước giữ ổn định, thế và lực tăng lên. Từ chỗ khan hiếm hàng hóa, năng lực sản xuất dần đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân và nền kinh tế; xuất khẩu tăng, hình thành dự trữ, từng bước củng cố nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Trong giai đoạn 2006-2015, Việt Nam trở thành nước đang phát triển thu nhập trung bình thấp; chính trị - xã hội ổn định, an sinh được bảo đảm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 30 năm đầu đổi mới đạt gần 7%/năm. Giai đoạn 1991-2016, xuất khẩu tăng 60 lần, nhập khẩu tăng 80 lần, phản ánh mức độ mở rộng của nền kinh tế và quá trình hội nhập.
Từ 2016 đến nay, dù môi trường quốc tế biến động, tăng trưởng GDP bình quân vẫn duy trì 6,2%/năm. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp đôi, lên trên 510 tỷ USD và khoảng 5.000 USD/người; đời sống người dân cải thiện rõ rệt.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, cả nước triển khai cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, xây dựng chính quyền 3 cấp, tổ chức lại không gian phát triển. Nhiều quyết sách chiến lược được ban hành nhằm tạo đột phá trong giai đoạn phát triển mới. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ vững chắc; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa tiếp tục được triển khai.
Đánh giá tổng thể 40 năm đổi mới, báo cáo khẳng định đất nước đạt những thành tựu lớn, có ý nghĩa lịch sử. GS Tạ Ngọc Tấn, Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, cho rằng ý chí quyết tâm của Đảng và Nhà nước cùng niềm tin của nhân dân là nền tảng giúp Việt Nam vượt qua nhiều thách thức và đạt kết quả mang tính lịch sử.
Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra hàng loạt khó khăn còn tồn tại, trong đó có nguy cơ tụt hậu, rủi ro rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Phát triển chưa bền vững, năng suất lao động và sức cạnh tranh còn thấp. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục đặt ra yêu cầu mới với sản xuất, thương mại và an sinh xã hội.
Nhận thức đột phá về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Một nội dung nổi bật trong tổng kết 40 năm đổi mới là quá trình phát triển nhận thức lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ Đại hội 6, Đảng đặt vấn đề đổi mới cơ chế kinh tế, phục hồi và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, sử dụng đầy đủ quan hệ hàng hóa - tiền tệ. Đại hội 7 tiếp tục xác định phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đến Đại hội 10, nhận thức được thống nhất theo hướng coi kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại.
Đại hội 13 xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, gắn với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Nền kinh tế gồm nhiều hình thức sở hữu và thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể được củng cố; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; khu vực vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích.
Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị tháng 5/2025 nhấn mạnh kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đồng thời yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Báo cáo tổng kết quá trình chuyển đổi về nhận thức, từ chỗ xem kinh tế thị trường là đặc trưng riêng của chủ nghĩa tư bản, đối lập với chủ nghĩa xã hội, đến việc xác định đây là thành quả chung của văn minh nhân loại. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được coi là một trụ cột quan trọng của thể chế phát triển nhanh và bền vững, "là một kiểu mới trong lịch sử phát triển".
Từ quốc gia lạc hậu thành nước đang phát triển
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam chuyển từ tình trạng đói nghèo, lạc hậu sang nhóm nước đang phát triển thu nhập trung bình cao, với tiềm lực và vị thế quốc tế được nâng lên rõ rệt.
Các thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp từng bước trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho doanh nghiệp. Chứng khoán, bảo hiểm tiếp tục phát triển; bất động sản mở rộng cả về quy mô và loại hình sản phẩm. Thị trường lao động phát triển theo hướng mở rộng quy mô và nâng chất lượng; khoa học, công nghệ tiến triển, gắn kết sâu hơn với khu vực và thế giới.
Việt Nam thiết lập quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia, vùng lãnh thổ; ký 17 hiệp định thương mại tự do với hơn 60 đối tác; thu hút FDI và ODA từ nhiều đối tác lớn trên thế giới.
Cùng với đó, mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" từng bước được hiện thực hóa thông qua điều chỉnh tăng lương cơ sở, lương tối thiểu vùng, giảm nghèo, mở rộng tầng lớp trung lưu. Các chỉ số phát triển con người HDI và chỉ số hạnh phúc được cải thiện.
Dù vậy, thể chế phát triển kinh tế vẫn còn quy định chồng chéo, gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh. Các thành phần kinh tế phát triển chưa đạt kỳ vọng; vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước chưa phát huy đầy đủ; kinh tế tư nhân chưa bền vững; khu vực vốn đầu tư nước ngoài chưa tạo hiệu ứng lan tỏa như mong muốn. Mô hình tăng trưởng chưa dựa vững chắc trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh kinh tế, báo cáo ghi nhận chuyển biến tích cực về văn hóa, giáo dục, khoa học, quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Việt Nam hoàn thành phổ cập tiểu học năm 2000; phổ cập trung học cơ sở năm 2010; phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ dưới 5 tuổi năm 2017. Trong quốc phòng - an ninh, quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa được triển khai; đối ngoại tiếp tục mở rộng với quan hệ ngoại giao với 194 nước thành viên Liên Hợp Quốc và thiết lập quan hệ đối tác ở nhiều cấp độ với các đối tác lớn.
Phấn đấu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030
Trong giai đoạn tới, bối cảnh quốc tế được dự báo tiếp tục phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi sâu sắc cơ cấu và phương thức sản xuất.
Ở trong nước, mục tiêu đến năm 2030 là nước thu nhập trung bình cao với quy mô GDP 900 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người 8.500 USD; đến năm 2045 GDP đạt 2.500 tỷ USD, nền giáo dục vào nhóm 10 nước tốt nhất châu Á. Tuy nhiên, thách thức về chênh lệch giàu nghèo vẫn hiện hữu.
Định hướng chung là tiếp tục kiên định đổi mới toàn diện; cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030; đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để đạt mục tiêu, công tác xây dựng và thi hành pháp luật sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ; giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Nhà nước sẽ thực hiện hiệu quả cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài; phát huy các động lực tăng trưởng mới như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn.
Kinh tế nhà nước được định hướng "thật sự giữ vai trò chủ đạo", đồng thời tạo điều kiện để kinh tế tư nhân thực sự là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, chú trọng phát triển các tập đoàn tư nhân lớn. Đầu tư nước ngoài được thu hút có chọn lọc, ưu tiên công nghệ cao; công nghiệp quốc phòng, an ninh phát triển theo hướng lưỡng dụng, hiện đại.
Mục tiêu 2 mốc 100 năm tiếp tục được đặt trong nền tảng tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, đoàn kết và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đến năm 2030, đất nước thực hiện chính sách cơ bản miễn viện phí toàn dân. "Tổng kết 40 năm đổi mới là cơ sở nền tảng về khoa học, thực tiễn để xây dựng Văn kiện Đại hội Đảng 14", GS Tạ Ngọc Tấn nói.
Vũ Tuân

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2026

 Vì sao mọi ‘dự báo đen tối’ đều trượt đích?
Thực tế có một đặc tính khiến mọi tin giả sớm muộn cũng lộ diện: nó diễn ra công khai, có kết quả, có dấu mốc, và có kiểm chứng. Hội nghị Trung ương 15 kết thúc trong ổn định, thống nhất và đúng kế hoạch, để lại một thực tế không thể phủ nhận: các định hướng lớn cho công tác chuẩn bị Đại hội XIV tiếp tục được củng cố; nguyên tắc tập trung dân chủ được giữ vững; niềm tin chính trị – xã hội không bị xáo trộn như những lời đồn đoán trước đó. Có thể kết luận ngay rằng sau HNTƯ 15, các thế lực chống đối đã không đạt được mục tiêu gây hoang mang, bởi thực tế vận hành của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tự thân phản bác mọi suy đoán. Chỉ riêng kết quả này đã đủ để khẳng định: mọi “dự báo đen tối” tung ra trước hội nghị đều không đạt được mục tiêu gây hoang mang.



Nhìn thẳng vào thực tế là bước đầu tiên. Hội nghị Trung ương 15 diễn ra theo chương trình đã định, với thông cáo chính thức, nhất quán, thể hiện mức độ đồng thuận cao về các nội dung trọng tâm. Không có rạn nứt nội bộ, không có khủng hoảng nhân sự, càng không có “kịch bản đổ vỡ” nào xảy ra. Trong khoa học chính trị, đây là chỉ dấu quan trọng của sự ổn định thể chế. Nếu các dự báo tiêu cực là đúng, hệ quả đã phải bộc lộ ngay trong quá trình và kết quả hội nghị. Nhưng điều đó đã không xảy ra.
Trước hội nghị, các luận điệu xuyên tạc xoay quanh những kịch bản quen thuộc: nào là hội nghị sẽ “bế tắc”, không đạt đồng thuận; nào là “đấu đá gay gắt” dẫn đến xung đột nội bộ; thậm chí có ý kiến cho rằng công tác chuẩn bị Đại hội XIV đã “an bài”, hội nghị chỉ mang tính hình thức, hoặc ngược lại sẽ “đổ vỡ” vì mâu thuẫn không thể dung hòa. Những dự báo này được phát tán dồn dập trên mạng xã hội, blog cá nhân, kênh video tự lập, tận dụng cảm xúc tiêu cực để thu hút chú ý.
Đặt từng dự báo cạnh thực tế, sự sai lệch hiện ra rõ ràng. “Bế tắc” không tồn tại khi hội nghị kết thúc đúng tiến độ và ra kết luận thống nhất. “Đấu đá” sụp đổ trước sự nhất quán của thông tin chính thức. “Hình thức” bị bác bỏ bởi chính quy trình nhiều tầng nấc, đòi hỏi thảo luận, tổng hợp, giải trình và tiếp thu trong chuẩn bị Đại hội XIV. Còn “đổ vỡ” thì hoàn toàn vô lý khi không kéo theo bất kỳ hệ quả thể chế nào.
Vì sao các dự báo ấy lại sai? Thứ nhất, do hiểu sai – hoặc cố tình không hiểu – cơ chế vận hành của Đảng, khi áp đặt lăng kính đối kháng phương Tây để suy diễn về Việt Nam. Thứ hai, nghiêm trọng hơn, là sự cố ý xuyên tạc nhằm tạo tâm lý bất an. Trong chiến tranh thông tin, dự báo tiêu cực thường tác động mạnh hơn sự kiện đã xảy ra, vì đánh vào nỗi sợ và sự tò mò. Khi thực tế phủ định, người tung tin thường im lặng hoặc nhanh chóng chuyển sang chủ đề khác.
Chu kỳ “dự báo sai – im lặng” không mới. Trước các kỳ hội nghị và đại hội trước đây, những kịch bản tương tự từng được tung ra, rồi lặng lẽ biến mất khi thực tế diễn ra ngược lại. Điều đó cho thấy đây không phải sai lầm ngẫu nhiên, mà là một phương thức quen thuộc.
Trở lại với Hội nghị Trung ương 15, thực tế là thước đo công bằng nhất với tin giả. Mọi “dự báo đen tối” đều trượt mục tiêu vì thiếu hiểu biết đúng đắn, thiếu chứng cứ xác thực và không tôn trọng quyền được thông tin chính xác của công chúng.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

 CHIẾN DỊCH QUANG TRUNG - “ĐỘC QUYỀN TRÁCH NHIỆM”
Cuối năm 2025, miền Trung -Tây Nguyên hứng chịu một đợt mưa lũ lịch sử. Nhà sập, nhà trôi, hàng nghìn hộ dân đứng trước thềm Tết trong cảnh trắng tay. Nhưng điều diễn ra sau đó lại cho thấy một đất nước rất khác.



Chính phủ đã phát động "Chiến dịch Quang Trung", không phải bằng khẩu hiệu chung chung mà bằng những mốc thời gian cụ thể: nhà hư hỏng phải sửa xong trước 31/12/2025; nhà sập phải xây mới, tái định cư xong trước 31/1/2026, thậm chí rút ngắn còn 15/1/2026. Mục tiêu duy nhất là không để người dân đón Tết trong cảnh không mái che.
Và những con số là minh chứng rõ ràng: Năm 2025, cả nước có hơn 4.000 nhà sập, gần 350.000 nhà hư hỏng. Riêng đợt lũ cuối năm, gần 1.000 nhà sập, hơn 3.000 nhà hư hỏng nặng. Nhưng đến thời điểm 6/1, số nhà được xây mới hoàn thành là 1.046 căn nhà, đạt 65,5%; số nhà đã khởi công nhưng chưa hoàn thành là 551 nhà, chiếm 34,5% (số nhà thi công trên 80% khối lượng là 314 nhà, số nhà thi công từ 60% đến 80% khối lượng là 196 nhà, số nhà thi công dưới 60% khối lượng là 41 nhà); số nhà ở hư hỏng phải sửa chữa là 34.759 nhà, đã hoàn thành sửa chữa đạt 100%. Căn nhà đầu tiên hoàn thành chỉ sau 15 ngày thi công. Nhà nước hỗ trợ tài chính, chính quyền chịu trách nhiệm đến từng hộ dân, các lực lượng Quân đội, Công an, các ban ngành đoàn thể, doanh nghiệp cùng chung tay.
Nếu như ở nhưng nơi được xem là "xứ thiên đường" nhà sập vì thiên tai là chuyện của bảo hiểm, vô gia cư là “lựa chọn cá nhân”, nhà nước không hứa hẹn deadline cho ai. Còn ở đây, nhà nước không hỏi có nên làm hay không, mà hỏi "làm thế nào để dân có nhà trước Tết".
Người ta có thể gọi đó là “độc quyền”. Nhưng nếu là độc quyền, thì đó là độc quyền trách nhiệm: ép làm nhanh, ép làm thật, ép cả hệ thống phải đứng ra lo cho dân đến nơi đến chốn.
Không phải chế độ nào nói hay về dân chủ cũng bảo vệ được dân. Nhưng chế độ dám đặt deadline để dân có nhà trước Tết, thì dân tự khắc hiểu ai đang đứng về phía mình.
<Quang Anh>

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

 Khi “bắt cóc nguyên thủ” bị ngụy trang thành dân chủ: sự đảo lộn chuẩn mực pháp quyền toàn cầu

Việc một hành vi quân sự mang tính cưỡng bức, xâm phạm chủ quyền quốc gia lại được một bộ phận dư luận tung hô như “chiến thắng của dân chủ” không chỉ là sự đảo lộn nghiêm trọng về chuẩn mực pháp quyền quốc tế, mà còn cho thấy sự mục ruỗng trong nhận thức về dân chủ, nhân quyền của những kẻ nhân danh các giá trị phổ quát để biện minh cho bạo lực quyền lực. Sự kiện Hoa Kỳ tiến hành chiến dịch quân sự trên lãnh thổ Venezuela, bắt giữ Tổng thống Nicolás Maduro và phu nhân, đưa ra khỏi lãnh thổ quốc gia này để truy tố đơn phương, ngay từ đầu đã gây chấn động cộng đồng quốc tế không phải vì nó “giải phóng” ai, mà vì nó thách thức trực diện những nguyên tắc cốt lõi đã hình thành trật tự thế giới hiện đại sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hơn cả không chỉ nằm ở bản thân hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, mà ở chỗ một số lực lượng đã cố tình bóp méo bản chất vụ việc, cổ súy cho hành động đó như một biểu tượng của dân chủ, đồng thời lợi dụng nó để gieo rắc tâm lý hả hê, đe dọa, kích động và công kích Đảng, Nhà nước Việt Nam.


Trong cách diễn giải của các luận điệu này, việc Mỹ bắt cóc nguyên thủ một quốc gia có chủ quyền bị gắn cho những mỹ từ như “giải phóng dân tộc”, “can thiệp nhân đạo”, hay “đòn trừng phạt cần thiết đối với độc tài”. Đây là một sự đánh tráo khái niệm nguy hiểm. Luật pháp quốc tế chưa từng, và cũng không thể, thừa nhận quyền của bất kỳ quốc gia nào được đơn phương sử dụng vũ lực để bắt giữ nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ của họ, bất kể các cáo buộc chính trị hay hình sự được viện dẫn là gì. Hiến chương Liên Hợp Quốc, trong Điều 2 khoản 4, đã xác lập rõ ràng nguyên tắc cấm đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào. Nguyên tắc này không phải là khẩu hiệu đạo đức trừu tượng, mà là nền móng pháp lý nhằm ngăn chặn sự trở lại của luật rừng trong quan hệ quốc tế. Việc biện minh cho hành vi bắt cóc nguyên thủ bằng danh nghĩa dân chủ thực chất là phủ nhận toàn bộ tiến trình văn minh mà nhân loại đã phải trả giá bằng chiến tranh, máu và nước mắt để xây dựng.
Đáng chú ý, các luận điệu cổ súy cho hành vi này không dừng lại ở việc ngụy tạo tính chính danh cho bạo lực, mà còn cố tình đồng nhất “dân chủ” với “sức mạnh cưỡng chế”. Trong logic lệch lạc đó, dân chủ không còn là quyền tự quyết của nhân dân, không còn là tiến trình cải cách thể chế thông qua đối thoại, pháp luật và sự tham gia xã hội, mà bị biến thành sản phẩm của bom đạn, biệt kích và quyền lực áp đặt từ bên ngoài. Cách hiểu này đi ngược hoàn toàn với các chuẩn mực nhân quyền quốc tế, trong đó quyền tự quyết của các dân tộc được coi là quyền nền tảng, không thể bị tước đoạt nhân danh bất kỳ lý do nào. Thực tế cho thấy, ngay cả những quốc gia có quan điểm phê phán chính quyền Venezuela cũng đã lên tiếng phản đối hành vi bắt cóc, bởi họ hiểu rằng nếu chấp nhận logic “bắt nguyên thủ để làm dân chủ”, thì không còn quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, có thể an toàn trước sự tùy tiện của quyền lực mạnh.
Chính trong bối cảnh đó, việc một số cá nhân và tổ chức lợi dụng vụ việc Venezuela để gieo rắc các thông điệp hù dọa, ám chỉ rằng “rồi sẽ đến lượt Việt Nam”, hoặc so sánh khiên cưỡng Việt Nam với Venezuela, đã bộc lộ rõ bản chất kích động và chống phá. Những luận điệu này không nhằm bảo vệ nhân quyền, mà nhằm gieo rắc tâm lý bất ổn, cổ súy cho tư duy can thiệp và hợp thức hóa bạo lực quốc tế. Họ cố tình bỏ qua thực tế rằng Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền, có hệ thống pháp luật riêng, có quá trình đối thoại nhân quyền thường xuyên với các cơ chế quốc tế, và đang giải quyết các vấn đề nội bộ bằng con đường hòa bình, cải cách và pháp quyền. Việc lôi kéo Việt Nam vào một kịch bản “bị bắt cóc nguyên thủ” không chỉ phi lý, mà còn phản ánh mong muốn đen tối của những kẻ sẵn sàng đánh đổi chủ quyền quốc gia để thỏa mãn ý đồ chính trị của mình.
Ở góc độ luật pháp quốc tế, nguy cơ lớn nhất của việc cổ súy hành vi bắt cóc nguyên thủ nằm ở tiền lệ mà nó tạo ra. Nếu một quốc gia có thể đơn phương bắt giữ nguyên thủ quốc gia khác vì cho rằng mình có “lý do chính đáng”, thì trật tự quốc tế dựa trên luật lệ sẽ nhanh chóng sụp đổ, nhường chỗ cho một thế giới nơi kẻ mạnh tự cho mình quyền phán xét và trừng phạt kẻ yếu. Đây không phải là cảnh báo mang tính giả định. Lịch sử đã cho thấy, mỗi khi nguyên tắc chủ quyền bị xói mòn, chiến tranh và hỗn loạn sẽ lan rộng. Chính vì vậy, nhiều quốc gia, kể cả những nước không đồng tình với chính sách của Venezuela, đã phản đối mạnh mẽ hành động của Mỹ, coi đó là một tiền lệ nguy hiểm có thể làm suy yếu toàn bộ hệ thống pháp lý quốc tế.
Điều đáng suy ngẫm là, ngay trong lòng nước Mỹ, hành vi bắt cóc nguyên thủ cũng không nhận được sự đồng thuận tuyệt đối. Nhiều học giả luật hiến pháp, các nhà bình luận chính trị và một bộ phận người dân Mỹ đã lên tiếng cho rằng việc sử dụng vũ lực quân sự để bắt giữ lãnh đạo một quốc gia khác mà không có sự phê chuẩn của Liên Hợp Quốc là hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, đi ngược lại các giá trị mà chính nước Mỹ từng tuyên bố bảo vệ. Những cuộc tranh luận công khai, các cuộc biểu tình phản đối và các bài phân tích pháp lý tại Mỹ cho thấy xã hội Mỹ không phải là một khối đồng nhất cổ vũ cho bạo lực, mà tồn tại một dòng chảy phản tỉnh, lên án việc lạm dụng sức mạnh nhân danh dân chủ. Chính điều đó càng làm lộ rõ sự thiển cận của những kẻ tại Việt Nam và ở nước ngoài khi họ hả hê trước hành vi vi phạm chủ quyền, coi đó như “đòn cảnh cáo” đối với các quốc gia không đi theo quỹ đạo chính trị mà họ mong muốn.
Việc lợi dụng sự kiện Venezuela để công kích Đảng, Nhà nước Việt Nam vì thế không chỉ là hành vi xuyên tạc, mà còn là sự phản bội chính các giá trị nhân quyền mà họ tự xưng theo đuổi. Nhân quyền không thể được xây dựng trên nền tảng của đe dọa, bắt cóc và xâm lược. Dân chủ không thể tồn tại nếu nó phủ nhận quyền tự quyết của các dân tộc. Văn minh không thể được khẳng định bằng việc cổ súy cho luật rừng trong quan hệ quốc tế. Khi những kẻ này ca ngợi hành vi bắt cóc nguyên thủ như một “chiến thắng”, họ đã tự bộc lộ một nhận thức méo mó, trong đó bạo lực được xem là công cụ chính đáng, còn luật pháp quốc tế chỉ là vật cản có thể bỏ qua khi không phục vụ lợi ích của họ.
Từ góc nhìn đó, việc phê phán các luận điệu cổ súy hành vi bắt cóc Tổng thống Venezuela không chỉ là bảo vệ một quốc gia cụ thể, mà là bảo vệ những nguyên tắc nền tảng của trật tự thế giới hiện đại. Đồng thời, việc vạch trần âm mưu lợi dụng sự kiện này để công kích Việt Nam cũng là bảo vệ quyền tự quyết và con đường phát triển độc lập của dân tộc Việt Nam. Trong một thế giới đầy biến động, nơi sức mạnh quân sự vẫn có nguy cơ lấn át luật pháp, việc kiên định với các chuẩn mực pháp quyền quốc tế, phản đối mọi hình thức xâm phạm chủ quyền và bác bỏ luận điệu dân chủ cưỡng bức không chỉ là lựa chọn chính trị, mà là yêu cầu đạo đức của những ai thực sự tôn trọng hòa bình, nhân quyền và tiến bộ của nhân loại.

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

 "ĐIỀU MỪNG" CHO NHỮNG ĐỨA TRẺ KHI MẸ CHÚNG NHẬP KHO
Xung quanh thông tin về việc Hồng Thái Hoàng vừa bị khởi tố, tạm giam với cáo buộc chống phá Nhà nước, người ta cũng chú ý đến việc Hoàng có tới 4 người con với 4 ông bố khác nhau. Có lẽ run rủi cho những đứa trẻ khi không may sinh vào một nơi mà bố thì chối bỏ, mẹ thì chống phá đất nước.


Nhiều người đặt ra câu hỏi khi Hồng Thái Hoàng bị bắt như vậy, 4 đứa trẻ sẽ nheo nhóc ra làm sao. Và với những đứa trẻ thật là không may khi bố hay mẹ vướng vào vòng lao lý, dời xa vòng tay người thân. Nhưng với những đứa trẻ nhà Thái Hoàng, việc Hoàng bị bớ lại là điều hay, điều may với chúng.
Bởi ai theo dõi facebook của Hồng Thái Hoàng bấy lâu nay đều sẽ nhận thấy rằng, không chỉ ảnh hưởng bởi tư tưởng, hành động chống đối của người mẹ mà Hồng Thái Hoàng không ít lần bộc lộ tư tưởng, cách dạy dỗ cực đoan, phản khoa học và mang đậm tư tưởng chống đối. Với cách dạy dỗ như thế, những đứa trẻ nhà Thái Hoàng có nguy cơ bước theo vết xe đổ của người mẹ. Có lẽ, Hồng Thái Hoàng nhập kho chính là điều mừng khi tách những đứa trẻ đó ra khỏi yếu tố tiêu cực có thể ảnh hưởng đến tương lai của chúng. Mong rằng, sau những ngày cải tạo, Hồng Thái Hoàng sẽ trở về xã hội, sẽ là một người tốt nhất là một người mẹ tốt.
<Trung Quân>

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

 NHỮNG MẢNH VỠ CỦA CHUNG CƯ
Hình ảnh hành lang chung cư bừa bộn, giày dép vứt tràn lan không chỉ phản ánh một thói quen sinh hoạt cẩu thả, mà còn cho thấy một lối sống coi thường không gian chung và quyền lợi của người khác. Đáng lo ngại hơn, từ sự vô ý thức đó lại kéo theo những hành vi ứng xử mang tính “hoang dã”: sẵn sàng đánh người đã đăng clip phản ánh việc con mình có hành vi sàm sỡ trong thang máy, thay vì bình tĩnh nhìn nhận, hợp tác làm rõ sự việc.


Việc hành hung người tố giác không chỉ vi phạm pháp luật mà còn cho thấy tư duy che đậy sai trái bằng bạo lực. Đó là biểu hiện của sự thiếu hiểu biết pháp luật, thiếu kỹ năng sống đô thị và thiếu cả trách nhiệm giáo dục con cái. Trong xã hội hiện đại, chung cư là không gian sống tập thể, mọi hành vi cá nhân đều chịu sự điều chỉnh của nội quy và pháp luật, không ai có quyền “muốn làm gì thì làm”.
Đáng buồn là có những người không quan tâm thời sự, không theo dõi các vụ án đã và đang bị xét xử với những hành vi tương tự, nên vẫn ngộ nhận rằng bạo lực có thể giải quyết vấn đề. Nhưng thực tế cho thấy, pháp luật không đứng ngoài. Sự vô minh hôm nay có thể phải trả giá bằng trách nhiệm hình sự ngày mai. Sống văn minh không phải lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc của xã hội tiến bộ.
<Trạng Tí>

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2026

 Cộng đồng quốc tế ghi nhận thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam
Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, các nhà đầu tư nước ngoài, bạn bè quốc tế đều coi Việt Nam là một trong những điểm sáng trong bối cảnh kinh tế ảm đạm của thế giới thời gian qua.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết: Trước tình hình quốc tế phức tạp, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, trong nước hứng chịu thảm họa thiên tai cực đoan chưa từng thấy, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, quyết liệt, sâu sát của Đảng, Chính phủ, Việt Nam nổi lên như một “điểm sáng” về ổn định vĩ mô và tăng trưởng kinh tế.



Chiều 8/1, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi của phóng viên về thông tin Cục Thống kê vừa công bố số liệu kinh tế-xã hội năm 2025 của Việt Nam, theo đó GDP năm 2025 của nước ta ước tăng 8,02% so với năm 2024; dư luận quốc tế nhận định thế nào về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2025 và dự báo triển vọng năm 2026, bà Phạm Thu Hằng nêu rõ kết quả phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam năm 2025 đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu chủ yếu. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát tốt, tăng trưởng cao, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.
Tốc độ tăng GDP quý 4 năm 2025 ước đạt 8,46%, cả năm ước đạt 8,02%; quy mô nền kinh tế đạt khoảng 514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới; thu nhập bình quân đầu người tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 và thuộc nhóm nước thu nhập trung bình cao.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt trên 930 tỷ USD, tăng 18,2% so với cùng kỳ, thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới. Vốn FDI thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9%, là mức thực hiện cao nhất từ năm 2021 đến nay.
Những thành tựu quan trọng này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, các nhà đầu tư nước ngoài, bạn bè quốc tế đều coi Việt Nam là một trong những điểm sáng trong bối cảnh kinh tế ảm đạm của thế giới thời gian qua.
Tổ chức Tiền tệ quốc tế xếp Việt Nam vào top 10 nước tăng trưởng cao nhất thế giới. Dư luận quốc tế đánh giá cao các động lực truyền thống như thương mại, đầu tư, du lịch tiếp tục tăng trưởng vượt bậc, các động lực mới như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, các hình thái, không gian phát triển mới được xác lập, đóng vai trò nền tảng cho lộ trình phát triển giai đoạn tới.
Với những thành tựu và thời cơ đó, trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục ưu tiên một số trọng tâm: tập trung hoàn thiện thể chế, pháp luật, đảm bảo minh bạch, đồng bộ, công bằng; tiếp tục tập trung hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng đi kèm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn; xác lập mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; bảo đảm tiến độ các dự án hạ tầng chiến lược, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.../.