Thứ Tư, 14 tháng 1, 2026

 Việt Nam từ khủng hoảng lạm phát đến nền kinh tế 510 tỷ USD

Từ nền kinh tế khan hiếm hàng hóa, lạm phát 774% cuối năm 1986, Việt Nam sau 40 năm đổi mới đã trở thành nước đang phát triển thu nhập trung bình cao, quy mô GDP trên 510 tỷ USD.


Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới 40 năm qua ở Việt Nam của Ban Chấp hành Trung ương khóa 13 nhìn lại bối cảnh trước năm 1986, khi đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề và rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài. Cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980, nền kinh tế thiếu hụt hàng hóa nghiêm trọng, đời sống người dân khó khăn. 10 năm đầu sau thống nhất đất nước, thu nhập bình quân đầu người Việt Nam chỉ 125-200 USD/năm, nằm trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới. Lạm phát cuối năm 1986 lên đến 774%.
Đại hội Đảng 6 xác định một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện. Do đó từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới. Trong 10 năm đầu, dù chịu tác động từ bao vây, cấm vận, nền kinh tế dần thoát khỏi khủng hoảng, vượt qua khó khăn. Kinh tế từng bước khắc phục tình trạng trì trệ, suy thoái và duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao liên tục.
Giai đoạn 1996-2005, đất nước giữ ổn định, thế và lực tăng lên. Từ chỗ khan hiếm hàng hóa, năng lực sản xuất dần đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân và nền kinh tế; xuất khẩu tăng, hình thành dự trữ, từng bước củng cố nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Trong giai đoạn 2006-2015, Việt Nam trở thành nước đang phát triển thu nhập trung bình thấp; chính trị - xã hội ổn định, an sinh được bảo đảm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 30 năm đầu đổi mới đạt gần 7%/năm. Giai đoạn 1991-2016, xuất khẩu tăng 60 lần, nhập khẩu tăng 80 lần, phản ánh mức độ mở rộng của nền kinh tế và quá trình hội nhập.
Từ 2016 đến nay, dù môi trường quốc tế biến động, tăng trưởng GDP bình quân vẫn duy trì 6,2%/năm. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp đôi, lên trên 510 tỷ USD và khoảng 5.000 USD/người; đời sống người dân cải thiện rõ rệt.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, cả nước triển khai cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, xây dựng chính quyền 3 cấp, tổ chức lại không gian phát triển. Nhiều quyết sách chiến lược được ban hành nhằm tạo đột phá trong giai đoạn phát triển mới. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ vững chắc; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa tiếp tục được triển khai.
Đánh giá tổng thể 40 năm đổi mới, báo cáo khẳng định đất nước đạt những thành tựu lớn, có ý nghĩa lịch sử. GS Tạ Ngọc Tấn, Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, cho rằng ý chí quyết tâm của Đảng và Nhà nước cùng niềm tin của nhân dân là nền tảng giúp Việt Nam vượt qua nhiều thách thức và đạt kết quả mang tính lịch sử.
Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra hàng loạt khó khăn còn tồn tại, trong đó có nguy cơ tụt hậu, rủi ro rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Phát triển chưa bền vững, năng suất lao động và sức cạnh tranh còn thấp. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục đặt ra yêu cầu mới với sản xuất, thương mại và an sinh xã hội.
Nhận thức đột phá về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Một nội dung nổi bật trong tổng kết 40 năm đổi mới là quá trình phát triển nhận thức lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ Đại hội 6, Đảng đặt vấn đề đổi mới cơ chế kinh tế, phục hồi và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, sử dụng đầy đủ quan hệ hàng hóa - tiền tệ. Đại hội 7 tiếp tục xác định phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đến Đại hội 10, nhận thức được thống nhất theo hướng coi kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại.
Đại hội 13 xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, gắn với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Nền kinh tế gồm nhiều hình thức sở hữu và thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể được củng cố; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; khu vực vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích.
Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị tháng 5/2025 nhấn mạnh kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đồng thời yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Báo cáo tổng kết quá trình chuyển đổi về nhận thức, từ chỗ xem kinh tế thị trường là đặc trưng riêng của chủ nghĩa tư bản, đối lập với chủ nghĩa xã hội, đến việc xác định đây là thành quả chung của văn minh nhân loại. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được coi là một trụ cột quan trọng của thể chế phát triển nhanh và bền vững, "là một kiểu mới trong lịch sử phát triển".
Từ quốc gia lạc hậu thành nước đang phát triển
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam chuyển từ tình trạng đói nghèo, lạc hậu sang nhóm nước đang phát triển thu nhập trung bình cao, với tiềm lực và vị thế quốc tế được nâng lên rõ rệt.
Các thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp từng bước trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho doanh nghiệp. Chứng khoán, bảo hiểm tiếp tục phát triển; bất động sản mở rộng cả về quy mô và loại hình sản phẩm. Thị trường lao động phát triển theo hướng mở rộng quy mô và nâng chất lượng; khoa học, công nghệ tiến triển, gắn kết sâu hơn với khu vực và thế giới.
Việt Nam thiết lập quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia, vùng lãnh thổ; ký 17 hiệp định thương mại tự do với hơn 60 đối tác; thu hút FDI và ODA từ nhiều đối tác lớn trên thế giới.
Cùng với đó, mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" từng bước được hiện thực hóa thông qua điều chỉnh tăng lương cơ sở, lương tối thiểu vùng, giảm nghèo, mở rộng tầng lớp trung lưu. Các chỉ số phát triển con người HDI và chỉ số hạnh phúc được cải thiện.
Dù vậy, thể chế phát triển kinh tế vẫn còn quy định chồng chéo, gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh. Các thành phần kinh tế phát triển chưa đạt kỳ vọng; vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước chưa phát huy đầy đủ; kinh tế tư nhân chưa bền vững; khu vực vốn đầu tư nước ngoài chưa tạo hiệu ứng lan tỏa như mong muốn. Mô hình tăng trưởng chưa dựa vững chắc trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh kinh tế, báo cáo ghi nhận chuyển biến tích cực về văn hóa, giáo dục, khoa học, quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Việt Nam hoàn thành phổ cập tiểu học năm 2000; phổ cập trung học cơ sở năm 2010; phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ dưới 5 tuổi năm 2017. Trong quốc phòng - an ninh, quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa được triển khai; đối ngoại tiếp tục mở rộng với quan hệ ngoại giao với 194 nước thành viên Liên Hợp Quốc và thiết lập quan hệ đối tác ở nhiều cấp độ với các đối tác lớn.
Phấn đấu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030
Trong giai đoạn tới, bối cảnh quốc tế được dự báo tiếp tục phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi sâu sắc cơ cấu và phương thức sản xuất.
Ở trong nước, mục tiêu đến năm 2030 là nước thu nhập trung bình cao với quy mô GDP 900 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người 8.500 USD; đến năm 2045 GDP đạt 2.500 tỷ USD, nền giáo dục vào nhóm 10 nước tốt nhất châu Á. Tuy nhiên, thách thức về chênh lệch giàu nghèo vẫn hiện hữu.
Định hướng chung là tiếp tục kiên định đổi mới toàn diện; cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030; đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để đạt mục tiêu, công tác xây dựng và thi hành pháp luật sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ; giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Nhà nước sẽ thực hiện hiệu quả cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài; phát huy các động lực tăng trưởng mới như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn.
Kinh tế nhà nước được định hướng "thật sự giữ vai trò chủ đạo", đồng thời tạo điều kiện để kinh tế tư nhân thực sự là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, chú trọng phát triển các tập đoàn tư nhân lớn. Đầu tư nước ngoài được thu hút có chọn lọc, ưu tiên công nghệ cao; công nghiệp quốc phòng, an ninh phát triển theo hướng lưỡng dụng, hiện đại.
Mục tiêu 2 mốc 100 năm tiếp tục được đặt trong nền tảng tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, đoàn kết và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đến năm 2030, đất nước thực hiện chính sách cơ bản miễn viện phí toàn dân. "Tổng kết 40 năm đổi mới là cơ sở nền tảng về khoa học, thực tiễn để xây dựng Văn kiện Đại hội Đảng 14", GS Tạ Ngọc Tấn nói.
Vũ Tuân

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2026

 Vì sao mọi ‘dự báo đen tối’ đều trượt đích?
Thực tế có một đặc tính khiến mọi tin giả sớm muộn cũng lộ diện: nó diễn ra công khai, có kết quả, có dấu mốc, và có kiểm chứng. Hội nghị Trung ương 15 kết thúc trong ổn định, thống nhất và đúng kế hoạch, để lại một thực tế không thể phủ nhận: các định hướng lớn cho công tác chuẩn bị Đại hội XIV tiếp tục được củng cố; nguyên tắc tập trung dân chủ được giữ vững; niềm tin chính trị – xã hội không bị xáo trộn như những lời đồn đoán trước đó. Có thể kết luận ngay rằng sau HNTƯ 15, các thế lực chống đối đã không đạt được mục tiêu gây hoang mang, bởi thực tế vận hành của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tự thân phản bác mọi suy đoán. Chỉ riêng kết quả này đã đủ để khẳng định: mọi “dự báo đen tối” tung ra trước hội nghị đều không đạt được mục tiêu gây hoang mang.



Nhìn thẳng vào thực tế là bước đầu tiên. Hội nghị Trung ương 15 diễn ra theo chương trình đã định, với thông cáo chính thức, nhất quán, thể hiện mức độ đồng thuận cao về các nội dung trọng tâm. Không có rạn nứt nội bộ, không có khủng hoảng nhân sự, càng không có “kịch bản đổ vỡ” nào xảy ra. Trong khoa học chính trị, đây là chỉ dấu quan trọng của sự ổn định thể chế. Nếu các dự báo tiêu cực là đúng, hệ quả đã phải bộc lộ ngay trong quá trình và kết quả hội nghị. Nhưng điều đó đã không xảy ra.
Trước hội nghị, các luận điệu xuyên tạc xoay quanh những kịch bản quen thuộc: nào là hội nghị sẽ “bế tắc”, không đạt đồng thuận; nào là “đấu đá gay gắt” dẫn đến xung đột nội bộ; thậm chí có ý kiến cho rằng công tác chuẩn bị Đại hội XIV đã “an bài”, hội nghị chỉ mang tính hình thức, hoặc ngược lại sẽ “đổ vỡ” vì mâu thuẫn không thể dung hòa. Những dự báo này được phát tán dồn dập trên mạng xã hội, blog cá nhân, kênh video tự lập, tận dụng cảm xúc tiêu cực để thu hút chú ý.
Đặt từng dự báo cạnh thực tế, sự sai lệch hiện ra rõ ràng. “Bế tắc” không tồn tại khi hội nghị kết thúc đúng tiến độ và ra kết luận thống nhất. “Đấu đá” sụp đổ trước sự nhất quán của thông tin chính thức. “Hình thức” bị bác bỏ bởi chính quy trình nhiều tầng nấc, đòi hỏi thảo luận, tổng hợp, giải trình và tiếp thu trong chuẩn bị Đại hội XIV. Còn “đổ vỡ” thì hoàn toàn vô lý khi không kéo theo bất kỳ hệ quả thể chế nào.
Vì sao các dự báo ấy lại sai? Thứ nhất, do hiểu sai – hoặc cố tình không hiểu – cơ chế vận hành của Đảng, khi áp đặt lăng kính đối kháng phương Tây để suy diễn về Việt Nam. Thứ hai, nghiêm trọng hơn, là sự cố ý xuyên tạc nhằm tạo tâm lý bất an. Trong chiến tranh thông tin, dự báo tiêu cực thường tác động mạnh hơn sự kiện đã xảy ra, vì đánh vào nỗi sợ và sự tò mò. Khi thực tế phủ định, người tung tin thường im lặng hoặc nhanh chóng chuyển sang chủ đề khác.
Chu kỳ “dự báo sai – im lặng” không mới. Trước các kỳ hội nghị và đại hội trước đây, những kịch bản tương tự từng được tung ra, rồi lặng lẽ biến mất khi thực tế diễn ra ngược lại. Điều đó cho thấy đây không phải sai lầm ngẫu nhiên, mà là một phương thức quen thuộc.
Trở lại với Hội nghị Trung ương 15, thực tế là thước đo công bằng nhất với tin giả. Mọi “dự báo đen tối” đều trượt mục tiêu vì thiếu hiểu biết đúng đắn, thiếu chứng cứ xác thực và không tôn trọng quyền được thông tin chính xác của công chúng.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

 CHIẾN DỊCH QUANG TRUNG - “ĐỘC QUYỀN TRÁCH NHIỆM”
Cuối năm 2025, miền Trung -Tây Nguyên hứng chịu một đợt mưa lũ lịch sử. Nhà sập, nhà trôi, hàng nghìn hộ dân đứng trước thềm Tết trong cảnh trắng tay. Nhưng điều diễn ra sau đó lại cho thấy một đất nước rất khác.



Chính phủ đã phát động "Chiến dịch Quang Trung", không phải bằng khẩu hiệu chung chung mà bằng những mốc thời gian cụ thể: nhà hư hỏng phải sửa xong trước 31/12/2025; nhà sập phải xây mới, tái định cư xong trước 31/1/2026, thậm chí rút ngắn còn 15/1/2026. Mục tiêu duy nhất là không để người dân đón Tết trong cảnh không mái che.
Và những con số là minh chứng rõ ràng: Năm 2025, cả nước có hơn 4.000 nhà sập, gần 350.000 nhà hư hỏng. Riêng đợt lũ cuối năm, gần 1.000 nhà sập, hơn 3.000 nhà hư hỏng nặng. Nhưng đến thời điểm 6/1, số nhà được xây mới hoàn thành là 1.046 căn nhà, đạt 65,5%; số nhà đã khởi công nhưng chưa hoàn thành là 551 nhà, chiếm 34,5% (số nhà thi công trên 80% khối lượng là 314 nhà, số nhà thi công từ 60% đến 80% khối lượng là 196 nhà, số nhà thi công dưới 60% khối lượng là 41 nhà); số nhà ở hư hỏng phải sửa chữa là 34.759 nhà, đã hoàn thành sửa chữa đạt 100%. Căn nhà đầu tiên hoàn thành chỉ sau 15 ngày thi công. Nhà nước hỗ trợ tài chính, chính quyền chịu trách nhiệm đến từng hộ dân, các lực lượng Quân đội, Công an, các ban ngành đoàn thể, doanh nghiệp cùng chung tay.
Nếu như ở nhưng nơi được xem là "xứ thiên đường" nhà sập vì thiên tai là chuyện của bảo hiểm, vô gia cư là “lựa chọn cá nhân”, nhà nước không hứa hẹn deadline cho ai. Còn ở đây, nhà nước không hỏi có nên làm hay không, mà hỏi "làm thế nào để dân có nhà trước Tết".
Người ta có thể gọi đó là “độc quyền”. Nhưng nếu là độc quyền, thì đó là độc quyền trách nhiệm: ép làm nhanh, ép làm thật, ép cả hệ thống phải đứng ra lo cho dân đến nơi đến chốn.
Không phải chế độ nào nói hay về dân chủ cũng bảo vệ được dân. Nhưng chế độ dám đặt deadline để dân có nhà trước Tết, thì dân tự khắc hiểu ai đang đứng về phía mình.
<Quang Anh>

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

 Khi “bắt cóc nguyên thủ” bị ngụy trang thành dân chủ: sự đảo lộn chuẩn mực pháp quyền toàn cầu

Việc một hành vi quân sự mang tính cưỡng bức, xâm phạm chủ quyền quốc gia lại được một bộ phận dư luận tung hô như “chiến thắng của dân chủ” không chỉ là sự đảo lộn nghiêm trọng về chuẩn mực pháp quyền quốc tế, mà còn cho thấy sự mục ruỗng trong nhận thức về dân chủ, nhân quyền của những kẻ nhân danh các giá trị phổ quát để biện minh cho bạo lực quyền lực. Sự kiện Hoa Kỳ tiến hành chiến dịch quân sự trên lãnh thổ Venezuela, bắt giữ Tổng thống Nicolás Maduro và phu nhân, đưa ra khỏi lãnh thổ quốc gia này để truy tố đơn phương, ngay từ đầu đã gây chấn động cộng đồng quốc tế không phải vì nó “giải phóng” ai, mà vì nó thách thức trực diện những nguyên tắc cốt lõi đã hình thành trật tự thế giới hiện đại sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hơn cả không chỉ nằm ở bản thân hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, mà ở chỗ một số lực lượng đã cố tình bóp méo bản chất vụ việc, cổ súy cho hành động đó như một biểu tượng của dân chủ, đồng thời lợi dụng nó để gieo rắc tâm lý hả hê, đe dọa, kích động và công kích Đảng, Nhà nước Việt Nam.


Trong cách diễn giải của các luận điệu này, việc Mỹ bắt cóc nguyên thủ một quốc gia có chủ quyền bị gắn cho những mỹ từ như “giải phóng dân tộc”, “can thiệp nhân đạo”, hay “đòn trừng phạt cần thiết đối với độc tài”. Đây là một sự đánh tráo khái niệm nguy hiểm. Luật pháp quốc tế chưa từng, và cũng không thể, thừa nhận quyền của bất kỳ quốc gia nào được đơn phương sử dụng vũ lực để bắt giữ nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ của họ, bất kể các cáo buộc chính trị hay hình sự được viện dẫn là gì. Hiến chương Liên Hợp Quốc, trong Điều 2 khoản 4, đã xác lập rõ ràng nguyên tắc cấm đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào. Nguyên tắc này không phải là khẩu hiệu đạo đức trừu tượng, mà là nền móng pháp lý nhằm ngăn chặn sự trở lại của luật rừng trong quan hệ quốc tế. Việc biện minh cho hành vi bắt cóc nguyên thủ bằng danh nghĩa dân chủ thực chất là phủ nhận toàn bộ tiến trình văn minh mà nhân loại đã phải trả giá bằng chiến tranh, máu và nước mắt để xây dựng.
Đáng chú ý, các luận điệu cổ súy cho hành vi này không dừng lại ở việc ngụy tạo tính chính danh cho bạo lực, mà còn cố tình đồng nhất “dân chủ” với “sức mạnh cưỡng chế”. Trong logic lệch lạc đó, dân chủ không còn là quyền tự quyết của nhân dân, không còn là tiến trình cải cách thể chế thông qua đối thoại, pháp luật và sự tham gia xã hội, mà bị biến thành sản phẩm của bom đạn, biệt kích và quyền lực áp đặt từ bên ngoài. Cách hiểu này đi ngược hoàn toàn với các chuẩn mực nhân quyền quốc tế, trong đó quyền tự quyết của các dân tộc được coi là quyền nền tảng, không thể bị tước đoạt nhân danh bất kỳ lý do nào. Thực tế cho thấy, ngay cả những quốc gia có quan điểm phê phán chính quyền Venezuela cũng đã lên tiếng phản đối hành vi bắt cóc, bởi họ hiểu rằng nếu chấp nhận logic “bắt nguyên thủ để làm dân chủ”, thì không còn quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, có thể an toàn trước sự tùy tiện của quyền lực mạnh.
Chính trong bối cảnh đó, việc một số cá nhân và tổ chức lợi dụng vụ việc Venezuela để gieo rắc các thông điệp hù dọa, ám chỉ rằng “rồi sẽ đến lượt Việt Nam”, hoặc so sánh khiên cưỡng Việt Nam với Venezuela, đã bộc lộ rõ bản chất kích động và chống phá. Những luận điệu này không nhằm bảo vệ nhân quyền, mà nhằm gieo rắc tâm lý bất ổn, cổ súy cho tư duy can thiệp và hợp thức hóa bạo lực quốc tế. Họ cố tình bỏ qua thực tế rằng Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền, có hệ thống pháp luật riêng, có quá trình đối thoại nhân quyền thường xuyên với các cơ chế quốc tế, và đang giải quyết các vấn đề nội bộ bằng con đường hòa bình, cải cách và pháp quyền. Việc lôi kéo Việt Nam vào một kịch bản “bị bắt cóc nguyên thủ” không chỉ phi lý, mà còn phản ánh mong muốn đen tối của những kẻ sẵn sàng đánh đổi chủ quyền quốc gia để thỏa mãn ý đồ chính trị của mình.
Ở góc độ luật pháp quốc tế, nguy cơ lớn nhất của việc cổ súy hành vi bắt cóc nguyên thủ nằm ở tiền lệ mà nó tạo ra. Nếu một quốc gia có thể đơn phương bắt giữ nguyên thủ quốc gia khác vì cho rằng mình có “lý do chính đáng”, thì trật tự quốc tế dựa trên luật lệ sẽ nhanh chóng sụp đổ, nhường chỗ cho một thế giới nơi kẻ mạnh tự cho mình quyền phán xét và trừng phạt kẻ yếu. Đây không phải là cảnh báo mang tính giả định. Lịch sử đã cho thấy, mỗi khi nguyên tắc chủ quyền bị xói mòn, chiến tranh và hỗn loạn sẽ lan rộng. Chính vì vậy, nhiều quốc gia, kể cả những nước không đồng tình với chính sách của Venezuela, đã phản đối mạnh mẽ hành động của Mỹ, coi đó là một tiền lệ nguy hiểm có thể làm suy yếu toàn bộ hệ thống pháp lý quốc tế.
Điều đáng suy ngẫm là, ngay trong lòng nước Mỹ, hành vi bắt cóc nguyên thủ cũng không nhận được sự đồng thuận tuyệt đối. Nhiều học giả luật hiến pháp, các nhà bình luận chính trị và một bộ phận người dân Mỹ đã lên tiếng cho rằng việc sử dụng vũ lực quân sự để bắt giữ lãnh đạo một quốc gia khác mà không có sự phê chuẩn của Liên Hợp Quốc là hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, đi ngược lại các giá trị mà chính nước Mỹ từng tuyên bố bảo vệ. Những cuộc tranh luận công khai, các cuộc biểu tình phản đối và các bài phân tích pháp lý tại Mỹ cho thấy xã hội Mỹ không phải là một khối đồng nhất cổ vũ cho bạo lực, mà tồn tại một dòng chảy phản tỉnh, lên án việc lạm dụng sức mạnh nhân danh dân chủ. Chính điều đó càng làm lộ rõ sự thiển cận của những kẻ tại Việt Nam và ở nước ngoài khi họ hả hê trước hành vi vi phạm chủ quyền, coi đó như “đòn cảnh cáo” đối với các quốc gia không đi theo quỹ đạo chính trị mà họ mong muốn.
Việc lợi dụng sự kiện Venezuela để công kích Đảng, Nhà nước Việt Nam vì thế không chỉ là hành vi xuyên tạc, mà còn là sự phản bội chính các giá trị nhân quyền mà họ tự xưng theo đuổi. Nhân quyền không thể được xây dựng trên nền tảng của đe dọa, bắt cóc và xâm lược. Dân chủ không thể tồn tại nếu nó phủ nhận quyền tự quyết của các dân tộc. Văn minh không thể được khẳng định bằng việc cổ súy cho luật rừng trong quan hệ quốc tế. Khi những kẻ này ca ngợi hành vi bắt cóc nguyên thủ như một “chiến thắng”, họ đã tự bộc lộ một nhận thức méo mó, trong đó bạo lực được xem là công cụ chính đáng, còn luật pháp quốc tế chỉ là vật cản có thể bỏ qua khi không phục vụ lợi ích của họ.
Từ góc nhìn đó, việc phê phán các luận điệu cổ súy hành vi bắt cóc Tổng thống Venezuela không chỉ là bảo vệ một quốc gia cụ thể, mà là bảo vệ những nguyên tắc nền tảng của trật tự thế giới hiện đại. Đồng thời, việc vạch trần âm mưu lợi dụng sự kiện này để công kích Việt Nam cũng là bảo vệ quyền tự quyết và con đường phát triển độc lập của dân tộc Việt Nam. Trong một thế giới đầy biến động, nơi sức mạnh quân sự vẫn có nguy cơ lấn át luật pháp, việc kiên định với các chuẩn mực pháp quyền quốc tế, phản đối mọi hình thức xâm phạm chủ quyền và bác bỏ luận điệu dân chủ cưỡng bức không chỉ là lựa chọn chính trị, mà là yêu cầu đạo đức của những ai thực sự tôn trọng hòa bình, nhân quyền và tiến bộ của nhân loại.

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

 "ĐIỀU MỪNG" CHO NHỮNG ĐỨA TRẺ KHI MẸ CHÚNG NHẬP KHO
Xung quanh thông tin về việc Hồng Thái Hoàng vừa bị khởi tố, tạm giam với cáo buộc chống phá Nhà nước, người ta cũng chú ý đến việc Hoàng có tới 4 người con với 4 ông bố khác nhau. Có lẽ run rủi cho những đứa trẻ khi không may sinh vào một nơi mà bố thì chối bỏ, mẹ thì chống phá đất nước.


Nhiều người đặt ra câu hỏi khi Hồng Thái Hoàng bị bắt như vậy, 4 đứa trẻ sẽ nheo nhóc ra làm sao. Và với những đứa trẻ thật là không may khi bố hay mẹ vướng vào vòng lao lý, dời xa vòng tay người thân. Nhưng với những đứa trẻ nhà Thái Hoàng, việc Hoàng bị bớ lại là điều hay, điều may với chúng.
Bởi ai theo dõi facebook của Hồng Thái Hoàng bấy lâu nay đều sẽ nhận thấy rằng, không chỉ ảnh hưởng bởi tư tưởng, hành động chống đối của người mẹ mà Hồng Thái Hoàng không ít lần bộc lộ tư tưởng, cách dạy dỗ cực đoan, phản khoa học và mang đậm tư tưởng chống đối. Với cách dạy dỗ như thế, những đứa trẻ nhà Thái Hoàng có nguy cơ bước theo vết xe đổ của người mẹ. Có lẽ, Hồng Thái Hoàng nhập kho chính là điều mừng khi tách những đứa trẻ đó ra khỏi yếu tố tiêu cực có thể ảnh hưởng đến tương lai của chúng. Mong rằng, sau những ngày cải tạo, Hồng Thái Hoàng sẽ trở về xã hội, sẽ là một người tốt nhất là một người mẹ tốt.
<Trung Quân>

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

 NHỮNG MẢNH VỠ CỦA CHUNG CƯ
Hình ảnh hành lang chung cư bừa bộn, giày dép vứt tràn lan không chỉ phản ánh một thói quen sinh hoạt cẩu thả, mà còn cho thấy một lối sống coi thường không gian chung và quyền lợi của người khác. Đáng lo ngại hơn, từ sự vô ý thức đó lại kéo theo những hành vi ứng xử mang tính “hoang dã”: sẵn sàng đánh người đã đăng clip phản ánh việc con mình có hành vi sàm sỡ trong thang máy, thay vì bình tĩnh nhìn nhận, hợp tác làm rõ sự việc.


Việc hành hung người tố giác không chỉ vi phạm pháp luật mà còn cho thấy tư duy che đậy sai trái bằng bạo lực. Đó là biểu hiện của sự thiếu hiểu biết pháp luật, thiếu kỹ năng sống đô thị và thiếu cả trách nhiệm giáo dục con cái. Trong xã hội hiện đại, chung cư là không gian sống tập thể, mọi hành vi cá nhân đều chịu sự điều chỉnh của nội quy và pháp luật, không ai có quyền “muốn làm gì thì làm”.
Đáng buồn là có những người không quan tâm thời sự, không theo dõi các vụ án đã và đang bị xét xử với những hành vi tương tự, nên vẫn ngộ nhận rằng bạo lực có thể giải quyết vấn đề. Nhưng thực tế cho thấy, pháp luật không đứng ngoài. Sự vô minh hôm nay có thể phải trả giá bằng trách nhiệm hình sự ngày mai. Sống văn minh không phải lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc của xã hội tiến bộ.
<Trạng Tí>

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2026

 Cộng đồng quốc tế ghi nhận thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam
Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, các nhà đầu tư nước ngoài, bạn bè quốc tế đều coi Việt Nam là một trong những điểm sáng trong bối cảnh kinh tế ảm đạm của thế giới thời gian qua.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết: Trước tình hình quốc tế phức tạp, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, trong nước hứng chịu thảm họa thiên tai cực đoan chưa từng thấy, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, quyết liệt, sâu sát của Đảng, Chính phủ, Việt Nam nổi lên như một “điểm sáng” về ổn định vĩ mô và tăng trưởng kinh tế.



Chiều 8/1, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi của phóng viên về thông tin Cục Thống kê vừa công bố số liệu kinh tế-xã hội năm 2025 của Việt Nam, theo đó GDP năm 2025 của nước ta ước tăng 8,02% so với năm 2024; dư luận quốc tế nhận định thế nào về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2025 và dự báo triển vọng năm 2026, bà Phạm Thu Hằng nêu rõ kết quả phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam năm 2025 đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu chủ yếu. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát tốt, tăng trưởng cao, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.
Tốc độ tăng GDP quý 4 năm 2025 ước đạt 8,46%, cả năm ước đạt 8,02%; quy mô nền kinh tế đạt khoảng 514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới; thu nhập bình quân đầu người tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 và thuộc nhóm nước thu nhập trung bình cao.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt trên 930 tỷ USD, tăng 18,2% so với cùng kỳ, thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới. Vốn FDI thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9%, là mức thực hiện cao nhất từ năm 2021 đến nay.
Những thành tựu quan trọng này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, các nhà đầu tư nước ngoài, bạn bè quốc tế đều coi Việt Nam là một trong những điểm sáng trong bối cảnh kinh tế ảm đạm của thế giới thời gian qua.
Tổ chức Tiền tệ quốc tế xếp Việt Nam vào top 10 nước tăng trưởng cao nhất thế giới. Dư luận quốc tế đánh giá cao các động lực truyền thống như thương mại, đầu tư, du lịch tiếp tục tăng trưởng vượt bậc, các động lực mới như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, các hình thái, không gian phát triển mới được xác lập, đóng vai trò nền tảng cho lộ trình phát triển giai đoạn tới.
Với những thành tựu và thời cơ đó, trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục ưu tiên một số trọng tâm: tập trung hoàn thiện thể chế, pháp luật, đảm bảo minh bạch, đồng bộ, công bằng; tiếp tục tập trung hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng đi kèm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn; xác lập mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; bảo đảm tiến độ các dự án hạ tầng chiến lược, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.../.

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2026

 Vì sao Tổng thống Trump muốn kiểm soát Greenland?
Phát biểu của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc muốn kiểm soát Greenland làm dấy lên tranh luận về an ninh, pháp lý và nguy cơ rạn nứt quan hệ xuyên Đại Tây Dương.



Trong những tháng đầu sau khi trở lại Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Donald Trump nhiều lần tuyên bố muốn giành quyền kiểm soát Greenland và không loại trừ khả năng sử dụng biện pháp quân sự. Vấn đề này từng lắng xuống, nhưng lại thu hút chú ý sau khi Mỹ tiến hành cuộc tấn công tại Venezuela.
Ngày 4/1, Tổng thống Trump cho rằng Greenland cần thiết cho an ninh quốc gia Mỹ và khẳng định Đan Mạch không đủ khả năng bảo đảm điều này. Đáp lại, Thủ tướng Greenland Jens-Frederik Nielsen cảnh báo Mỹ không nên can thiệp, nhấn mạnh hòn đảo sẵn sàng đối thoại thông qua các kênh phù hợp và tôn trọng luật pháp quốc tế.
Greenland là hòn đảo lớn nhất thế giới, là lãnh thổ tự trị thuộc Đan Mạch, nằm ở vị trí chiến lược giữa Bắc Đại Tây Dương và Bắc Cực. Khu vực này sở hữu nhiều khoáng sản quan trọng, nhiên liệu hóa thạch và đất hiếm, đồng thời có vai trò ngày càng lớn khi băng tan mở ra các tuyến hàng hải mới. Tuy nhiên, ông Trump cho rằng lợi ích năng lượng không phải động lực chính, mà yếu tố an ninh mới là then chốt.
Vị trí của Greenland giữa châu Âu và Bắc Mỹ khiến nơi đây trở thành mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ. Hòn đảo hiện có căn cứ không quân và trạm radar phục vụ cảnh báo tên lửa và giám sát không gian. Căn cứ Không gian Pituffik được xây dựng theo thỏa thuận quốc phòng năm 1951 giữa Đan Mạch và Mỹ, hỗ trợ các hoạt động phòng thủ của Mỹ và NATO.
Về mặt quân sự, giới phân tích cho rằng Mỹ có khả năng hành động, song về chính trị và pháp lý, hệ quả sẽ rất nghiêm trọng. Greenland không phải thành viên độc lập của NATO nhưng được bảo vệ theo tư cách lãnh thổ của Đan Mạch - quốc gia thành viên liên minh này. Bất kỳ hành động quân sự nào cũng có thể khiến các đồng minh NATO đối đầu lẫn nhau.
Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen nhấn mạnh Mỹ đã có quyền tiếp cận quân sự rộng rãi tại Greenland theo các thỏa thuận hiện hành và khẳng định Washington không có quyền sáp nhập bất kỳ phần lãnh thổ nào của Vương quốc Đan Mạch. Bà cho rằng Greenland và Đan Mạch không gây ra mối đe dọa nào đối với an ninh Mỹ.
Một số học giả nhận định khả năng Mỹ sử dụng biện pháp quân sự là rất thấp. Kịch bản dễ xảy ra hơn là Mỹ gây sức ép để Greenland hoặc Đan Mạch nhượng bộ về quyền tiếp cận tài nguyên. Việc mua lại Greenland thông qua đàm phán cũng được nhắc đến, song điều này đòi hỏi sự đồng thuận của cả người dân Greenland lẫn Đan Mạch, điều hiện chưa có dấu hiệu khả thi.
Các chuyên gia cảnh báo nếu Mỹ dùng vũ lực để chiếm Greenland, quan hệ xuyên Đại Tây Dương sẽ chịu tổn hại nghiêm trọng, làm suy yếu NATO trong bối cảnh xung đột vẫn đang diễn ra tại Ukraine. Ngay cả một thỏa thuận mang tính cưỡng ép cũng có thể làm xói mòn lòng tin giữa các đồng minh.

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2026

 Giáo dục đại học Việt Nam tạo dấu ấn xếp hạng quốc tế
Thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á và một cơ sở thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực, giáo dục đại học Việt Nam đang nỗ lực nâng cao chất lượng, đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Những kết quả xếp hạng đại học năm 2025 đã phản ánh rõ xu hướng tiến bộ đó.


Bảng xếp hạng QS World University Rankings (QS WUR) do tổ chức giáo dục Quacquarelli Symonds (Vương Quốc Anh) xây dựng là một trong ba bảng xếp hạng đại học uy tín hàng đầu thế giới. Trong khu vực Đông Nam Á, năm 2025 có 84 cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng; Malaysia dẫn đầu với 28 cơ sở, tiếp đến là Indonesia (26), Thái Lan (13), Việt Nam (6), Philippines (5), Singapore (4) và Brunei (2).
Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, theo số liệu công bố ngày 6/11/2024, Việt Nam có 6 cơ sở giáo dục đại học nằm trong bảng xếp hạng QS WUR 2025; đồng thời có 17 trường được xếp hạng trong danh sách bảng xếp hạng các trường đại học châu Á, tăng hai trường so với năm 2024. Hai cơ sở lần đầu góp mặt trên bảng xếp hạng quốc tế là Trường đại học Vinh và Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh. Các cơ sở được xếp hạng đã phân bố trên 6 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế và Vinh.
Đáng chú ý, trong năm 2025 có 10 cơ sở đào tạo tăng hạng và 5 cơ sở đào tạo được chuyển xuống các thứ hạng thấp hơn. Dù các trường mới gia nhập còn ở thứ hạng thấp, nhưng điểm trung bình của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam đều tăng ở nhiều chỉ số, nhất là hiệu quả hợp tác quốc tế và số trích dẫn trên mỗi bài báo khoa học. Việt Nam hiện đứng thứ 15/25 quốc gia châu Á được QS xếp hạng.
Trong bảng xếp hạng QS Asia University Rankings, năm 2025, Việt Nam có 17 cơ sở giáo dục đại học góp mặt. Theo đó, Đại học Duy Tân là cơ sở giáo dục đại học Việt Nam có thứ hạng cao nhất, đứng ở vị trí 127; tiếp theo là Đại học Quốc gia Hà Nội (161) và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (184). Trong số các cơ sở lần đầu góp mặt, Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh được xếp hạng vào nhóm 701-750, còn Trường đại học Vinh nhóm 851-900.
Ở bảng xếp hạng QS theo ngành, Việt Nam có 9 cơ sở đại học được xếp hạng tại 25 ngành học. Đặc biệt, có 3 ngành lọt top 100 thế giới, gồm ngành Kỹ thuật dầu khí của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; ngành Khách sạn và Giải trí của Đại học Duy Tân và ngành Nghệ thuật trình diễn của Trường đại học Văn Lang. Đây là những tín hiệu cho thấy chất lượng đào tạo có trọng điểm, thế mạnh của một số cơ sở giáo dục đại học trong nước đang từng bước được ghi nhận trên trường quốc tế.
Cùng với QS, THE World University Rankings là bảng xếp hạng danh tiếng, đánh giá các cơ sở giáo dục đại học trên toàn cầu dựa trên nghiên cứu những nhiệm vụ cốt lõi của một trường đại học gồm giảng dạy, nghiên cứu, chuyển giao kiến thức và triển vọng quốc tế.
Năm 2025, Việt Nam đạt thành tích nổi bật nhất từ trước đến nay với 9 cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng. Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh lần đầu tham gia nhưng đã đứng ở nhóm 501-600, thứ hạng cao nhất trong các cơ sở được xếp hạng. Tiếp đó là Đại học Duy Tân và Trường đại học Tôn Đức Thắng, cùng thuộc nhóm 601-800. Đáng chú ý, lần đầu tiên Trường đại học Y Hà Nội và Trường đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh cũng được ghi danh, lần lượt nằm trong nhóm 801-1.000 và 1.201-1.500.
Những kết quả trên cho thấy giáo dục đại học Việt Nam đang hiện diện ngày càng rõ nét hơn trên bản đồ giáo dục đại học thế giới. Thành tích này có được nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục và khoa học-công nghệ, thể hiện qua các nghị quyết quan trọng như Nghị quyết số 57- NQ/TW, Nghị quyết số 71-NQ/ TW.
Việc áp dụng các công cụ đánh giá tiên tiến, xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong và hình thành văn hóa chất lượng đã trở thành động lực giúp nhiều trường nâng cao năng lực cạnh tranh. Nhất là những nỗ lực của chính các nhà trường từ mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường công bố khoa học, đầu tư cơ sở vật chất đến đổi mới chương trình đào tạo đã góp phần tạo ra những thay đổi thực chất.
Năm 2025, Việt Nam đạt thành tích nổi bật nhất từ trước đến nay với 9 cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng.
Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phát triển giáo dục đại học theo hướng chất lượng, hiệu quả và hội nhập sâu rộng. Những kết quả tích cực từ các bảng xếp hạng là cơ sở quan trọng để tin tưởng rằng, với quyết tâm chính trị và sự đồng hành của toàn hệ thống, giáo dục đại học Việt Nam sẽ tiến gần hơn tới các mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết đã đề ra./.

Thứ Hai, 5 tháng 1, 2026

 Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất Đông Nam Á năm 2025 với GDP tăng 8,02%
Chiều 5/1, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025. Theo đó, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng kinh tế ấn tượng, trở thành quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực Đông Nam Á trong năm 2025.



Kinh tế - xã hội thế giới năm qua diễn biến phức tạp với nhiều bất ổn do xung đột địa chính trị, cạnh tranh chiến lược, chiến tranh thuế quan, thiên tai và biến đổi khí hậu, làm gia tăng thách thức đối với an ninh năng lượng và an ninh lương thực toàn cầu.
Trong nước, năm 2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2021-2025 và đẩy mạnh cải cách tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp.
Dù đối mặt nhiều khó khăn, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ, kinh tế Việt Nam vẫn đạt kết quả toàn diện, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát.
Kinh tế duy trì đà tăng trưởng cao, vĩ mô ổn định
Thông tin tại họp báo, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê cho biết, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 ước tăng 8,02% so với năm trước, mức tăng cao thứ hai trong giai đoạn 2011-2025. Riêng quý IV/2025, GDP tăng 8,46%, cao nhất trong các quý IV của 15 năm qua, duy trì xu hướng tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước. Với kết quả này, Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá là quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực Đông Nam Á trong năm 2025.
Trong cơ cấu tăng trưởng, khu vực dịch vụ tiếp tục đóng vai trò động lực chính, đóng góp 51,08% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 43,62%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 5,30%. Đặc biệt, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng gần 10%, mức cao nhất kể từ năm 2019, tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột của tăng trưởng kinh tế.
Quy mô nền kinh tế năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 514 tỷ USD, tăng 38 tỷ USD so với năm 2024. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD; năng suất lao động tăng 6,83%. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch tăng trưởng mạnh, khách quốc tế đến Việt Nam đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 9,2%; vốn đầu tư toàn xã hội tăng 12,1%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm qua.
Xã hội ổn định, an sinh được bảo đảm, đời sống nhân dân cải thiện
Cùng với kết quả kinh tế tích cực, các lĩnh vực xã hội tiếp tục được quan tâm, bảo đảm an sinh và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Dân số trung bình cả nước năm 2025 đạt 102,3 triệu người, chất lượng dân số tiếp tục được cải thiện. Thị trường lao động khởi sắc, lực lượng lao động và số người có việc làm tăng; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động duy trì ở mức thấp 2,22%.
Công tác an sinh xã hội được triển khai hiệu quả khi trong năm 2025, Chính phủ đã hỗ trợ người dân hơn 42 nghìn tấn gạo cứu đói, khắc phục hậu quả thiên tai; chương trình “Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát” hoàn thành sớm, hỗ trợ xây mới và sửa chữa hơn 334 nghìn căn nhà cho người dân trên cả nước.
Lĩnh vực giáo dục - đào tạo tiếp tục đổi mới với kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 được tổ chức theo phương án mới, bảo đảm minh bạch và chất lượng; tỷ lệ tốt nghiệp đạt 99,25%. Nhiều chính sách lớn về miễn, hỗ trợ học phí, phổ cập giáo dục mầm non và đầu tư trường học vùng khó khăn được triển khai đồng bộ.
Hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi nổi với nhiều sự kiện quy mô quốc gia, góp phần khơi dậy niềm tự hào dân tộc. Trong năm qua, Việt Nam ghi dấu ấn với 4 di sản được UNESCO vinh danh; thể thao thành tích cao đạt hơn 2.200 huy chương tại các giải đấu khu vực và quốc tế.
Phục hồi tăng trưởng GRDP và những vấn đề đặt ra trong giai đoạn tới
Tiếp nối họp báo, Phó Cục trưởng Cục Thống kê Lê Trung Hiếu nhận định, kết quả tăng trưởng GRDP năm 2025 của các địa phương có xu hướng phục hồi tích cực, song đồng thời bộc lộ nhiều vấn đề cần quan tâm liên quan đến chênh lệch vùng miền, chất lượng tăng trưởng, tính bền vững và năng lực cạnh tranh dài hạn.
Theo đó, tăng trưởng GRDP tiếp tục phân hóa rõ giữa các địa phương với một số trung tâm kinh tế lớn đạt mức tăng cao, trong khi nhiều tỉnh miền núi, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long tăng trưởng thấp, phản ánh sự mất cân đối về nguồn lực và cơ hội phát triển. Một số địa phương công nghiệp tăng nhanh nhưng đi kèm áp lực môi trường và tài nguyên, trong khi tỷ trọng các dịch vụ hiện đại còn thấp, hạn chế khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Thời gian tới, tăng trưởng GRDP các địa phương đối mặt nhiều thách thức từ biến động kinh tế thế giới, chi phí đầu vào và logistics tăng, nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng, cùng những khó khăn trong nước như giải ngân đầu tư công chậm, bất động sản phục hồi yếu và tác động của thiên tai.
Về định hướng, cần nâng cao hiệu quả đầu tư công theo hướng tập trung, lan tỏa vùng; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với nâng cao năng suất; tận dụng lợi thế sáp nhập đơn vị hành chính; đa dạng hóa động lực tăng trưởng theo hướng xanh, số và bền vững, đồng thời nâng cao chất lượng điều hành nhằm bảo đảm tăng trưởng ổn định, bền vững.
Những kết quả năm 2025 cho thấy nỗ lực lớn của toàn hệ thống chính trị, doanh nghiệp và nhân dân, tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển nhanh, bền vững và bao trùm.

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

 Bản lĩnh, tự chủ và chủ động chiến lược
Chiến lược của Việt Nam trong thế giới đầy biến động là phải dựa trên 4 trụ cột: Phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại, an ninh và quốc phòng.



Về thời gian, năm 2026 chỉ là một dấu mốc đơn thuần. Nhưng đối với đất nước và dân tộc Việt Nam, năm 2026 là một dấu mốc lịch sử khi hàm chứa sự khởi đầu công cuộc kiến tạo nên kỷ nguyên phát triển thịnh vượng mới.
Thế giới bên ngoài vẫn luôn biến động mạnh mẽ và đầy bất ngờ. Môi trường chính trị - an ninh, đối ngoại và kinh tế đối ngoại không phải luôn thuận lợi cho đất nước ta. Vì thế, bài toán đặt ra cho Việt Nam hiện nay là vừa ứng phó với biến chuyển ở thế giới bên ngoài sao cho yên ổn nhất trên mọi phương diện vừa tận dụng nhiều nhất từ những biến động đó để phục vụ tốt nhất công cuộc phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc. Chìa khóa cho thành công chỉ có thể là luôn vững vàng bản lĩnh dân tộc, tăng cường tự chủ chiến lược và phát huy chủ động chiến lược. Kỷ nguyên phát triển thịnh vượng đòi hỏi phải vừa tiếp đà thành công ở những thời kỳ trước vừa phải chủ động và sáng tạo, nhạy bén và linh hoạt kiến tạo cơ hội và vận hội mới cho đất nước.
Chiến lược của Việt Nam trong thế giới đầy biến động, phức tạp, bất ngờ phải dựa trên 4 trụ cột là phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại, an ninh và quốc phòng. Bốn trụ cột này phải được cấu trúc, xây dựng và duy trì trên nền tảng chung là lợi ích quốc gia - dân tộc để tạo nên sự bảo đảm vững chắc cho tương lai phồn vinh của đất nước. Phát triển, đối ngoại, an ninh và quốc phòng tương tác mật thiết với nhau, hậu thuẫn lẫn nhau và làm chỗ dựa cho nhau, vừa bảo vệ lẫn nhau vừa tạo động lực phát triển cho nhau.
Đặc biệt, khi cục diện quan hệ giữa các đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam là Mỹ, Nga, Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU) xoay vần chứ không ổn định, đan xen đối đầu và thỏa hiệp, co cụm và liên kết, đối ngoại của Việt Nam càng phải đi đầu trong việc vừa duy trì môi trường chính trị - an ninh, đối ngoại và kinh tế đối ngoại yên bình, ổn định và thuận lợi vừa phải chủ động gây dựng nên thuận lợi mới trong môi trường ấy cho đất nước.
Chẳng hạn, đối với các đối tác lớn này, mục tiêu hàng đầu phải là tránh bị lôi kéo vào cuộc cọ xát lợi ích giữa họ, tức là phải làm sao để họ cả khi mặn nồng lẫn lúc lạnh giá với nhau đều không gây tổn hại cho Việt Nam. Bí quyết thành công ở đây là cân bằng quan hệ, kiến tạo lợi ích chung và gắn kết lợi ích lâu dài. Bản chất quan hệ song phương giữa các đối tác lớn này, trên phương diện hợp tác với nhau cũng như đối phó lẫn nhau, không liên quan trực tiếp gì đến Việt Nam. Vì thế, Việt Nam có dư địa lớn để chủ động gây dựng, vận hành và quản trị thành công mối quan hệ song phương với từng bên trong bộ tứ ấy. Nhưng muốn được vậy thì đối ngoại phải luôn chủ động và nhạy bén, linh hoạt và thức thời.
Định hướng phát triển đất nước và chính sách cho từng lĩnh vực đã được Đảng và Nhà nước ta xác định cho kỷ nguyên mới. Trong kỷ nguyên này, lợi ích quốc gia - dân tộc có thêm nội hàm mới và yêu cầu đòi hỏi về bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa cũng có nội hàm mới và sâu rộng hơn trước rất nhiều. Trong bối cảnh tình hình như thế, chiến lược của Việt Nam càng cần phải là sự hội tụ của bản lĩnh dân tộc vững vàng, tự chủ chiến lược được tăng cường và chủ động chiến lược được phát huy./.

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2026

 Chống phá đất nước – “Lưới trời” dần siết chặt
Với sự ra đời Luật Dẫn độ thì các đối tượng tội phạm xuyên biên giới nói chung và những kẻ chống phá đất nước nói riêng ngày càng có ít đất dung thân!



Trong năm 2026 Luật Dẫn độ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7, sau khi được Quốc hội Việt Nam thông qua vào ngày 26/11/2025 với 4 chương và 45 điều. Bộ luật sẽ góp phần giải quyết tích cực những vụ án hình sự có các đối tượng đã trốn ra nước ngoài, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Trước khi Luật Dẫn độ có hiệu lực thì việc dẫn độ tội phạm từ nước ngoài về Việt Nam hay từ Việt Nam ra nước ngoài được thực hiện theo Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 (có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2008).
Quy định về dẫn độ trong Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và hoạt động dẫn độ trên thực tế thời gian qua đã mang lại nhiều kết quả tích cực nhưng cũng bộc lộ không ít hạn chế.
Một số quy định của Luật Tương trợ tư pháp không còn phù hợp với các đạo luật mới trong lĩnh vực tư pháp được Quốc hội ban hành thời gian qua: Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Thi hành án hình sự năm 2019…
Tình trạng nói trên làm cho Luật Tương trợ tư pháp thiếu gắn kết và chưa đồng bộ với pháp luật tố tụng trong nước, gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc giải quyết kịp thời các vụ việc dẫn độ.
Mặt khác, một số điều khoản về dẫn độ trong Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 chưa thực sự phù hợp với quy định trong các hiệp định tương trợ tư pháp song phương có quy định về dẫn độ và hiệp định song phương về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết với các nước.
Luật Dẫn độ sắp có hiệu lực quy định nguyên tắc, thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện dẫn độ và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước của Việt Nam trong việc dẫn độ; đối tượng áp dụng…
Luật Dẫn độ áp dụng nguyên tắc có đi có lại giữa Việt Nam và đối tác, chuyển cơ quan quyết định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong dẫn độ từ Bộ Ngoại giao sang Bộ Công an.
Với khung pháp lý rõ ràng được nêu trong Luật Dẫn độ thì việc trao đổi, dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và các nước sẽ thuận lợi, minh bạch, đúng pháp luật, góp phần đẩy mạnh mẽ sự hợp tác tư pháp xuyên biên giới.
Luật cũng quy định quyền giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu chính thức về dẫn độ nhằm ngăn chặn việc bỏ trốn, bảo đảm việc dẫn độ được kịp thời.
Trong thời gian qua Việt Nam là thành viên của 23 điều ước quốc tế đa phương có các quy định liên quan đến dẫn độ.
Bên cạnh đó, vào ngày 25/10/2025 và ngày 14/11/2025, thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang đã ký Công ước quốc tế về chống sử dụng công nghệ thông tin cho mục đích tội phạm trong khuôn khổ Lễ mở ký Công ước tại Hà Nội; ký Hiệp định ASEAN về dẫn độ trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Tư pháp các nước ASEAN lần thứ 13 tại Philíppin.
Cùng với các điều ước quốc tế đa phương, tính đến đầu năm 2026, Việt Nam đã ký hiệp định song phương về dẫn độ với các nước: Lào, Trung Quốc, Campuchia, Indonesia, Hàn Quốc, Mông Cổ, Kazakhstan, Ấn Độ, Sri LanKa, Pháp, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Hungary, Bồ Đào Nha, Italy, Tây Ban Nha, Australia, Argentina, Cuba, Các tiểu vương quốc Arab thống nhất, Mozambique, Algeria, Maroc.
Đồng thời, pháp luật Việt Nam còn cho phép dẫn độ tội phạm theo nguyên tắc có đi có lại với các quốc gia chưa tham gia các điều ước quốc tế về dẫn độ với nước ta.
Nguyên tắc có đi có lại có thể được áp dụng giữa Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức. Hai nước chưa có hiệp định dẫn độ riêng biệt nên việc hợp tác song phương chống tội phạm và dẫn độ dựa vào Hiệp định Hợp tác chống tội phạm (năm 2006), các cơ chế pháp lý chung gồm cả việc xem xét đàm phán về ký kết Hiệp định Dẫn độ người bị kết án.
Vào thời điểm này nhiều người dân ở nước ta quan tâm đến triển vọng hợp tác dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức.
Ngày 31/12/2025, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên phạt hai đối tượng Lê Trung Khoa và Nguyễn Văn Đài cùng 17 năm tù và cùng về tội “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Cả hai hiện đang lẩn trốn ở Đức.
Theo phóng viên TTXVN tại Béclin, vào tháng 9/2025, Thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam Lê Văn Tuyến đã có cuộc trao đổi với lãnh đạo Bộ Nội vụ nước chủ nhà về các lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm, quản lý hộ chiếu, xuất nhập cảnh và biên giới…
Hai bên nhất trí sẽ tăng cường trao đổi thông tin với nhau, phối hợp xử lý yêu cầu xác minh các vụ việc và dẫn độ tội phạm thông qua cả kênh ngoại giao và Interpol.
Với Thái Lan, nước ta đã đạt được kết quả đáng ghi nhận trong việc hợp tác dẫn độ tội phạm. Ngày 26/11/2025, Tòa án Hình sự Thái Lan đã ra phán quyết dẫn độ đối tượng khủng bố Y Quynh Bdap về Việt Nam và việc dẫn độ đã được hoàn tất vào ngày 28/11.
Y Quynh Bdap là kẻ chỉ đạo vụ tấn công khủng bố tại Đắk Lắk vào ngày 11/6/2023 làm 9 cán bộ và người dân thiệt mạng rồi bỏ trốn sang Thái Lan. Tháng 8/2023, Việt Nam đã phát lệnh truy nã và yêu cầu Thái Lan dẫn độ Y Quynh với cáo buộc "khủng bố". Tháng 1/2024, Y Quynh đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk kết án vắng mặt 10 năm tù.
Với sự ra đời Luật Dẫn độ và việc hợp tác dẫn độ giữa Việt Nam với các nước trên thế giới đang tiếp tục được mở rộng và mang lại nhiều hiệu quả thì các đối tượng tội phạm xuyên biên giới nói chung và những kẻ chống phá đất nước nói riêng ngày càng có ít đất dung thân!
TTXVN

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

 Xuyên tạc về sách giáo khoa: Bộ GD&ĐT đề nghị Bộ Công an vào cuộc
Chiều 2-1, Bộ GD-ĐT đã có thông báo về thông tin thất thiệt, xuyên tạc liên quan đến nội dung trong sách giáo khoa (SGK) môn Lịch sử - Địa lý lớp 5 (bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống”).



Thời gian gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số thông tin, bình luận thất thiệt, xuyên tạc nội dung lịch sử trong bộ SGK "Kết nối tri thức với cuộc sống", tạo ra những đánh giá sai lệch về nội dung của bộ sách. Điều này có thể tạo ra sự lo lắng, nghi ngờ chất lượng bộ sách, gây hoang mang xã hội, ảnh hưởng tới chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo.
Trong đó, tiêu biểu là thông tin: SGK Lịch sử - Địa lý lớp 5 chỉ có nội dung dạy về Nguyễn Ánh (Gia Long) nhưng không dạy về Quang Trung - phong trào Tây Sơn; từ đó, đi đến phủ nhận vô căn cứ nội dung lịch sử trong SGK.
Bộ GD-ĐT cho biết, đã tổ chức rà soát và kết quả cho thấy: nội dung dạy học về Quang Trung và phong trào Tây Sơn được bố trí đầy đủ, có hệ thống, xuyên suốt các lớp học như lớp 4 (môn Lịch sử và Địa lý), lớp 7 (môn Lịch sử), lớp 8 (môn Lịch sử); nội dung dạy học về nhà Nguyễn với tư cách là một triều đại được thể hiện khách quan, đầy đủ. Trong đó, nội dung về Nguyễn Ánh được bố trí theo mạch logic lịch sử ở lớp 5 (môn Lịch sử và Địa lý), lớp 7 và lớp 8 (môn Lịch sử).
Việc bố trí các nội dung trên trong bộ SGK "Kết nối tri thức với cuộc sống" phù hợp với logic tiến trình lịch sử, phù hợp với mục tiêu và đặc điểm tâm lí lứa tuổi, thể hiện đúng quan điểm của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (không tiếp cận lịch sử theo hướng thần tượng hóa hay phán xét đạo đức cá nhân; đặt nhân vật và sự kiện trong bối cảnh lịch sử cụ thể; bảo đảm tính khoa học, khách quan, cân bằng trong giáo dục lịch sử).
Bộ GD-ĐT khẳng định, việc cho rằng bộ SGK "Kết nối tri thức với cuộc sống" không dạy hoặc coi nhẹ Quang Trung - phong trào Tây Sơn là bóp méo thông tin và vu khống có chủ đích; việc SGK môn Lịch sử - Địa lý lớp 5 học bài “sự ra đời của nhà Nguyễn” là phù hợp với mạch lịch sử và mục tiêu chương trình, không thể tách rời khỏi tổng thể nội dung đã học ở các lớp trước và sẽ tiếp tục học ở các lớp sau.
Bộ GD-ĐT đã có văn bản đề nghị Bộ Công an và các cơ quan chức năng xác minh, làm rõ động cơ, mục đích của việc tạo dựng, phát tán các thông tin, bình luận thất thiệt, xuyên tạc nội dung lịch sử trong SGK để xử lý nghiêm các vi phạm (nếu có) nhằm bảo đảm an ninh chính trị trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Bộ GD-ĐT đề nghị người dân không chia sẻ thông tin nêu trên, không đưa ra các bình luận thiếu căn cứ, cơ sở liên quan đến nội dung này.

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2026

 Mạnh tay dẹp những thông tin xấu, độc chống phá Đại hội Đảng trên không gian mạng
Cố tìm mọi phương cách, thủ đoạn để chống phá mỗi khi Đại hội Đảng diễn ra, song cái “dàn đồng ca” ấy trong dịp tiến tới Đại hội lần thứ XIV hiện nay đã suy giảm thấy rõ cả “công suất” và “cường độ”. Trong công sức của nhiều lực lượng đấu tranh phản bác các thông tin, luận điệu luận điệu xuyên tạc, bóp méo, bịa đặt của các thế lực thù địch, có sự đóng góp tích cực, hiệu quả của lực lượng Công an nhân dân.


Những người ngăn ngừa thông tin xấu, độc trên mạng xã hội
“Dàn đồng ca” xấu, độc… “hụt hơi”
Mỗi kỳ Đại hội Đảng là một dấu mốc chính trị đặc biệt quan trọng của đất nước. Không chỉ quyết định đường lối phát triển, chiến lược dài hạn mà còn liên quan trực tiếp đến công tác nhân sự - nhiệm vụ “then chốt của then chốt”, bảo đảm sự kế thừa, ổn định và phát triển liên tục của Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy, cứ mỗi dịp Đại hội đến gần, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại cố tìm mọi phương cách, thủ đoạn để chống phá. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuẩn bị tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, có thể thấy rõ “dàn đồng ca” xấu, độc trên không gian mạng đang “hụt hơi” cả về “công suất” lẫn “cường độ”. Kết quả này là sự tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó có vai trò rất quan trọng của lực lượng Công an nhân dân trên tuyến đầu bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng.
Những thông tin xấu, độc, luận điệu chống phá Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng trên không gian mạng
Trước thềm Đại hội XIV, các thế lực thù địch, tổ chức phản động và số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị trong và ngoài nước vẫn ráo riết lợi dụng Internet, mạng xã hội, blog cá nhân để truyền bá tư tưởng phản động, đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta. Từ đường lối, văn kiện Đại hội, công tác tổ chức đến vấn đề nhân sự, cá nhân các đồng chí lãnh đạo chủ chốt... đều trở thành mục tiêu bị bóp méo, bịa đặt.
Dù nội dung chống phá có thay đổi qua từng kỳ Đại hội, song thủ đoạn vẫn là “bổn cũ soạn lại” với những “khuôn mặt đen” quen thuộc. Nhìn lại các kỳ Đại hội trước, đặc biệt là giai đoạn trước Đại hội XII và XIII, có thể thấy rõ việc các website, blog phản động “mọc lên” như “nấm sau mưa”, từ các trang tự xưng “dân làm báo”, “quan làm báo” đến các trang mạo danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Mục tiêu chung là tung tin giả, tin chưa được kiểm chứng về công tác nhân sự, tạo dư luận nhiễu loạn, làm xói mòn niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Trước, trong và sau Đại hội XIII, không gian mạng từng bị lợi dụng để tán phát hàng nghìn bài viết, video, livestream với nội dung bôi nhọ, vu cáo, suy diễn ác ý liên quan đến các đồng chí lãnh đạo và nhân sự tham gia Đại hội. Thậm chí, các đối tượng còn mạo danh cán bộ, đảng viên gửi đơn thư tố cáo nặc danh, đồng thời đăng tải công khai trên mạng nhằm tạo “dư luận giả”, kích động tâm lý hoài nghi, chia rẽ nội bộ. Thủ đoạn này nhằm từng bước phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong - một mưu đồ đặc biệt nguy hiểm.
Trong quá trình chuẩn bị Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV, đồng thời hướng tới bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, các thế lực xấu tiếp tục lặp lại lối mòn cũ: xuyên tạc công tác nhân sự không minh bạch, quy chụp là “lợi ích nhóm”, “chốt sẵn”, “theo ê-kíp”, bịa đặt các “danh sách nhân sự cấp cao”, kèm theo những bình luận ác ý nhằm bôi đen uy tín, phẩm chất, năng lực của các đồng chí lãnh đạo.
Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là số lượng và “âm lượng” của những thông tin xấu, độc trong dịp chuẩn bị Đại hội XIV đã giảm rõ rệt so với các kỳ Đại hội trước. Quan trọng hơn, thái độ và bản lĩnh của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước các luận điệu xuyên tạc đã có sự thay đổi căn bản. Thay vì hoang mang, dao động, xã hội ngày càng tỉnh táo, chủ động nhận diện và phản bác thông tin sai trái.
Kết quả này là thành quả của sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, từ tăng cường tuyên truyền chính thống, định hướng dư luận, lấp đầy “khoảng trống thông tin”, đến kiên quyết đấu tranh, xử lý các trang thông tin xấu, độc, hội nhóm phản động trên không gian mạng. Quan trọng hơn cả là việc xây dựng vững chắc “thế trận lòng dân”, “thế trận an ninh nhân dân”, lấy nhân dân làm trung tâm và là chỗ dựa vững chắc để bảo vệ Đảng, bảo vệ công tác nhân sự Đại hội.
Các thế lực thù địch, tổ chức phản động và số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị trong và ngoài nước vẫn ráo riết lợi dụng Internet, mạng xã hội, blog cá nhân để truyền bá tư tưởng phản động, đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta
Lực lượng Công an nhân dân trên tuyến đầu đấu tranh phản bác
Trong cuộc đấu tranh ngăn chặn và phản bác các luận điệu sai trái, thù địch chống phá Đại hội XIV, lực lượng Công an nhân dân đã và đang giữ vai trò nòng cốt, tuyến đầu. Với tinh thần chủ động, quyết liệt, lực lượng Công an đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành để yêu cầu các nền tảng công nghệ xuyên biên giới gỡ bỏ trên 90%, thậm chí gần 100% các nội dung xấu độc, vi phạm pháp luật Việt Nam trên Facebook, YouTube, TikTok… Nhiều kênh, tài khoản chuyên tung tin giả đã bị phát hiện và chặn gỡ chỉ trong vòng vài giờ.
Cùng với đó, các lực lượng chuyên trách tăng cường rà quét, phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi tán phát thông tin sai sự thật, xuyên tạc, xúc phạm tổ chức, cá nhân, chống phá Đảng, Nhà nước. Công tác này được đặt trong chiến lược tổng thể bảo vệ an ninh mạng quốc gia, gắn chặt với nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng.
Quan điểm xuyên suốt được quán triệt là kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nền tảng lâu dài, “chống” là nhiệm vụ thường xuyên, kiên quyết. Song song với việc vô hiệu hóa nguồn phát tán thông tin xấu, độc, lực lượng chức năng đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội, củng cố niềm tin chính trị, tạo “sức đề kháng” cho cộng đồng trước tin giả, tin xấu.
Trong bối cảnh không gian mạng mang tính ẩn danh, xuyên biên giới, việc truy vết, xác minh đối tượng vi phạm gặp không ít khó khăn. Nhận thức rõ điều này, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm công nghệ cao - Bộ Công an đã chủ động triển khai nhiều biện pháp toàn diện: từ hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường trách nhiệm của các nền tảng xuyên biên giới, đến xây dựng hệ thống giám sát, cảnh báo và phản ứng quy mô quốc gia, có khả năng phân tích xu hướng dư luận và phát hiện hành vi thao túng thông tin.
Bên cạnh đó, quy chế phối hợp liên ngành giữa lực lượng Công an nhân dân, cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức xã hội và cộng đồng khoa học - công nghệ tiếp tục được củng cố. Việc huy động sức mạnh xã hội, nhất là giới trẻ, đội ngũ sáng tạo nội dung tham gia lan tỏa thông tin tích cực đã tạo nên “lá chắn mềm” nhưng hiệu quả, góp phần làm “loãng” và vô hiệu hóa thông tin xấu, độc.
Càng gần thời điểm Đại hội XIV, các đối tượng chống phá càng có biểu hiện manh động, liều lĩnh. Lực lượng Công an nhân dân trên các mặt trận tiếp tục tập trung nắm chắc tình hình, phát hiện sớm các hoạt động công kích, phá hoại nội bộ, kịp thời đấu tranh, xử lý nghiêm các đối tượng lợi dụng không gian mạng để tung tin sai sự thật, hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Thực tiễn cho thấy, một trong những giải pháp căn cơ, bền vững nhất để đẩy lùi thông tin xấu, độc chính là lan tỏa mạnh mẽ thông tin tích cực, chính xác, kịp thời. Khi các thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, hoạt động đối nội, đối ngoại, công tác chỉ đạo, điều hành được truyền tải đầy đủ, minh bạch, đã thu hút hàng trăm triệu lượt tương tác tích cực trên không gian mạng. Đây không chỉ là minh chứng cho hiệu quả của công tác thông tin, tuyên truyền, mà còn góp phần xây dựng một môi trường mạng lành mạnh, củng cố niềm tin xã hội.
Đại hội XIV của Đảng đang đến gần. Việc mạnh tay dẹp những thông tin chống phá trên không gian mạng không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là yêu cầu lâu dài nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt, tin tưởng rằng Đại hội XIV sẽ diễn ra thành công, đáp ứng kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo động lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới hùng cường, thịnh vượng.